Theo TS. Đặng Thị Thanh Sơn, kết nối nguồn lực giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và đơn vị nghiên cứu là giải pháp then chốt để giải quyết bài toán kháng kháng sinh.
Trong khi nhiều khu vực trên thế giới đang đẩy mạnh cắt giảm sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi, theo Tổ chức Thú y Thế giới, châu Á – Thái Bình Dương vẫn là “điểm chậm” đáng quan ngại. Giai đoạn 2020-2022, mức giảm tại khu vực này chỉ khoảng 2%, thấp hơn rất nhiều so với châu Âu (khoảng 23%) và châu Phi (20-22%).
Sự chênh lệch này cho thấy áp lực kiểm soát kháng kháng sinh tại châu Á – Thái Bình Dương vẫn còn rất lớn. Đáng chú ý, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cảnh báo, Việt Nam là một trong những quốc gia có nguy cơ chịu tác động nặng nề từ vi khuẩn kháng thuốc trong thời gian tới. Tình trạng này đang âm thầm tạo nên một “đại dịch lặng lẽ” gây tử vong do vi khuẩn kháng thuốc.
TS. Đặng Thị Thanh Sơn, Trưởng bộ môn Thú y cộng đồng (Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam), đánh giá bức tranh về kháng kháng sinh trong ngành chăn nuôi Việt Nam có xu hướng gia tăng ở nhiều nhóm vi khuẩn. Theo một số nghiên cứu gần đây, tỷ lệ kháng kháng sinh của các vi khuẩn quy định trong nhóm cần giám sát chủ động hoặc bị động của Chương trình giám sát Quốc gia, đều ghi nhận xu hướng gia tăng khả năng kháng thuốc.
Đáng lo ngại, các vi khuẩn “trọng điểm” như E. coli, Salmonella, Staphylococcus (tụ cầu) và Streptococcus (liên cầu) không chỉ gây bệnh trên đàn vật nuôi mà còn là những mầm bệnh chính liên quan đến nguy cơ mất an toàn thực phẩm.

TS. Đặng Thị Thanh Sơn chia sẻ tại Hội nghị Khoa học, Công nghệ Chăn nuôi và Thú y toàn quốc lần thứ Nhất.
Ảnh: Phương Linh.
Phân tích sâu hơn, TS. Đặng Thị Thanh Sơn khẳng định an toàn thực phẩm và kháng kháng sinh là hai vấn đề có mối quan hệ mật thiết, không thể tách rời trong chuỗi sản xuất – tiêu dùng thực phẩm. Theo bà, rủi ro không chỉ dừng lại ở việc ngộ độc thực phẩm, mà khi các vi khuẩn này mang đặc tính đa kháng thuốc. Trong trường hợp này, các ca ngộ độc thực phẩm thông thường có thể trở nên phức tạp, kéo dài thời gian điều trị, thậm chí đe dọa tính mạng.
“Việc kiểm soát vi khuẩn kháng thuốc chính là tuyến phòng vệ từ sớm đối với an toàn thực phẩm. Giảm thiểu sự phát sinh và lan rộng của vi khuẩn kháng thuốc cũng đồng nghĩa với việc giảm nguy cơ ngộ độc thực phẩm và nâng cao hiệu quả điều trị khi có bệnh xảy ra”, bà nhấn mạnh.
Dù các quy định hiện hành về sử dụng kháng sinh của Việt Nam đã tương đối sát với khuyến cáo của Tổ chức Thú y Thế giới (WOAH), song hiệu quả kiểm soát trên thực tế vẫn chưa đạt như kỳ vọng. TS. Đặng Thị Thanh Sơn thẳng thắn nhìn nhận, thói quen lạm dụng kháng sinh trong phòng bệnh vẫn còn phổ biến tại nhiều hộ chăn nuôi và trang trại. Việc sử dụng kháng sinh mang tính dự phòng, thiếu kiểm soát không chỉ làm gia tăng chi phí sản xuất mà còn thúc đẩy nhanh quá trình hình thành vi khuẩn kháng thuốc.
Bên cạnh đó, hệ thống phòng xét nghiệm và thực tiễn sản xuất còn thiếu kết nối. Các kết quả phân tích, cảnh báo từ phòng thí nghiệm chưa được chuyển hóa kịp thời thành hành động cụ thể tại trang trại. Trong khi đó, nguồn lực cán bộ thú y ở cấp cơ sở còn mỏng, chưa được đào tạo chuyên sâu về giám sát và quản lý kháng kháng sinh.

TS. Sơn nhấn mạnh, các giải pháp phòng chống kháng kháng sinh cần mang tính hệ thống.
Ảnh: Minh Sáng.
Để giải quyết tận gốc vấn đề, TS. Sơn nhấn mạnh cách tiếp cận mang tính hệ thống thay vì các giải pháp đơn lẻ. Trọng tâm trước hết là tăng cường liên kết giữa phòng xét nghiệm và cơ sở chăn nuôi, nhằm đảm bảo việc phát hiện – giám sát – cảnh báo được thực hiện liên tục và hiệu quả. Song song, đầu tư nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ thú y các cấp, đặc biệt ở tuyến địa phương – nơi trực tiếp triển khai các biện pháp quản lý.
Một giải pháp quan trọng khác là thúc đẩy mô hình hợp tác công – tư. Trong đó, doanh nghiệp cần chủ động hơn, phối hợp với cơ sở chăn nuôi và hệ thống phòng xét nghiệm, dưới sự điều phối của cơ quan quản lý nhà nước.
Đặc biệt, TS. Sơn nhấn mạnh vai trò của các viện nghiên cứu và trường đại học trong việc cung cấp cơ sở khoa học, tư vấn kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực. Việc xây dựng các chương trình can thiệp cụ thể tại trang trại sẽ giúp người chăn nuôi vừa đảm bảo an toàn thực phẩm, vừa kiểm soát hiệu quả sự phát triển của vi khuẩn kháng thuốc.
“Giám sát và kiểm soát kháng kháng sinh không còn là câu chuyện của riêng một quốc gia. Đây là vấn đề toàn cầu, đòi hỏi sự chung tay của nhiều bên. Tôi hy vọng, với sự phối hợp đa ngành, tốc độ gia tăng kháng kháng sinh sẽ từng bước được kiềm chế, qua đó bảo vệ đàn vật nuôi và sức khỏe cộng đồng”, TS. Sơn chia sẻ.
Nguồn: Nông nghiệp môi trường



