Đang tải...
VIE
English
/An toàn sinh học/Đắk Lắk chủ động phòng dịch vật nuôi trong bối cảnh thời tiết chuyển mùa

Đắk Lắk chủ động phòng dịch vật nuôi trong bối cảnh thời tiết chuyển mùa

Bạn muốn nghe bài viết?

(TĂCN) – Với tỷ trọng đóng góp khoảng 20% vào giá trị sản xuất nông nghiệp, ngành chăn nuôi đang khẳng định vị thế trụ cột trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Đắk Lắk. Trước áp lực rủi ro dịch bệnh trong thời điểm giao mùa, địa phương này đang quyết liệt triển khai “mục tiêu kép”: vừa tái cơ cấu ngành theo hướng hiện đại, vừa siết chặt công tác phòng chống dịch.

Đắk Lắk vừa tái cơ cấu ngành theo hướng hiện đại, vừa siết chặt công tác phòng chống dịch.

Ảnh: KT

Bức tranh chăn nuôi Đắk Lắk đang có sự chuyển dịch tích cực từ nông hộ nhỏ lẻ sang quy mô công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao và tiêu chuẩn VietGAP. Tính đến nay, toàn tỉnh đã thu hút 66 dự án trang trại quy mô lớn (chủ yếu là chăn nuôi lợn) được chấp thuận đầu tư với tổng vốn hơn 10.000 tỷ đồng. Tổng đàn vật nuôi duy trì ổn định ở mức gần 23,7 triệu con; sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm 2025 ước đạt trên 388 nghìn tấn, đảm bảo an ninh thực phẩm cho khu vực.

Tuy nhiên, thách thức về an toàn sinh học vẫn là bài toán nan giải. Từ đầu năm 2025 đến nay, Dịch tả lợn Châu Phi đã buộc tiêu hủy hơn 21.200 con lợn, chủ yếu tại các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ thiếu rào cản kỹ thuật. Đối với các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác như lở mồm long móng, viêm da nổi cục hay cúm gia cầm, dù đã cơ bản được khống chế hoặc xử lý dứt điểm, song nguy cơ tái bùng phát khi thời tiết chuyển mùa vẫn rất cao.

Năm 2026, Đắk Lắk xác định phòng chống dịch là nhiệm vụ then chốt. Tỉnh tập trung nâng cao năng lực giám sát, tiêm phòng và kiểm soát chặt chẽ khâu giết mổ, vận chuyển. Về dài hạn, địa phương kiên định mục tiêu giảm dần chăn nuôi nhỏ lẻ, khuyến khích doanh nghiệp và người dân đầu tư vào chăn nuôi tập trung, an toàn sinh học để phát triển bền vững.

Xuân Thủy

Thời tiết

Đang tải...

Tỷ giá ngoại tệ

MuaBán
USD26,069.0026,339.00
EUR29,658.0631,221.64
JPY160.76170.97
GBP34,388.7935,848.59
AUD18,143.8718,914.08
CAD18,659.6119,451.71
Nguồn: Vietcombank

Bài viết liên quan