Đang tải...
VIE
English
/Thương mại số/Xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi 5 tháng đầu năm tăng 43,2%

Xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi 5 tháng đầu năm tăng 43,2%

Bạn muốn nghe bài viết?

(TACN) – Số liệu thống kê mới nhất từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy, hoạt động xuất nhập khẩu các sản phẩm chăn nuôi, thức ăn gia súc và nguyên liệu của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận những chuyển biến mạnh mẽ. Điểm sáng lớn nhất là kim ngạch xuất khẩu tăng tốc ấn tượng; trong khi ở chiều ngược lại, cơ cấu thị trường cung ứng nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước đang có sự tái định hình sâu sắc.

Sản phẩm thịt của Việt Nam mở rộng sang 25 thị trường quốc tế.

Thị trường xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao ổn định. Tính riêng trong tháng 5 năm 2026, giá trị xuất khẩu toàn ngành ước đạt 66,5 triệu USD. Lũy kế 5 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi chính thức cán mốc 308 triệu USD, đạt mức tăng trưởng bùng nổ lên tới 43,2% so với cùng kỳ năm 2025.

Đóng góp chính vào kết quả này là hai nhóm mặt hàng chủ lực gồm:

Sữa và các sản phẩm từ sữa: Ghi nhận bước tiến vượt bậc khi mang về 79,3 triệu USD, tăng gấp 2,1 lần so với cùng kỳ năm trước.

Thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ: Đạt giá trị kim ngạch 89,2 triệu USD, tăng trưởng 8,6%.

Ở chiều ngược lại, nhu cầu tiêu thụ nội địa cũng thúc đẩy kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này tăng cao. Tháng 5/2026, Việt Nam chi 472,3 triệu USD để nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi, nâng tổng giá trị nhập khẩu 5 tháng đầu năm lên 2,24 tỷ USD (tăng 29,7%). Trong đó, nhóm thịt và phụ phẩm sau giết mổ chiếm tỷ trọng lớn nhất với 910,5 triệu USD (tăng 26,1%), tiếp sau là sữa và sản phẩm sữa với 695,3 triệu USD (tăng 20,3%).

Mặc dù quy mô ngành chăn nuôi tiếp tục duy trì, giá trị nhập khẩu nhóm hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu trong tháng 5/2026 ước đạt 450 triệu USD, đưa tổng kim ngạch 5 tháng đầu năm đạt 1,77 tỷ USD, giảm 11% so với cùng kỳ năm ngoái. Hoa Kỳ, Áchentina và Trung Quốc hiện là 3 đối tác cung ứng thức ăn gia súc lớn nhất cho Việt Nam với thị phần lần lượt là 22%, 17% và 12,5%. Đáng chú ý, số liệu phân tích sâu về thị trường cung ứng trong những tháng đầu năm cho thấy có sự phân hóa cực kỳ gay gắt: Trung Quốc dẫn đầu tốc độ tăng trưởng với mức tăng 60,1%, tiếp theo là Hoa Kỳ tăng 28,4%. Riêng trong nhóm 15 thị trường lớn nhất, Canađa ghi nhận mức bứt phá kỷ lục khi tăng tới 5,9 lần.

Tuy nhiên, nhập khẩu từ Áchentina chứng kiến sự sụt giảm mạnh nhất toàn ngành khi lao dốc tới 67,1% giá trị so với cùng kỳ năm trước.

Đối với nhóm nông sản nhập khẩu phục vụ chế biến, mặt hàng đậu tương và lúa mì ghi nhận khối lượng đổ về các cảng Việt Nam tăng rất mạnh.

Khối lượng nhập khẩu đậu tương trong tháng 5/2026 ước đạt 480 nghìn tấn với giá trị đạt 224,6 triệu USD. Tổng cộng 5 tháng đầu năm, Việt Nam đã nhập khẩu 1,6 triệu tấn đậu tương, tương đương 766,3 triệu USD, đạt mức tăng mạnh 72,4% về khối lượng và 78,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.

Giá đậu tương nhập khẩu bình quân trong giai đoạn này neo ở mức 474,4 USD/tấn, tăng nhẹ 3,6%. Việt Nam chủ yếu phụ thuộc vào hai nguồn cung lớn là Hoa Kỳ (chiếm 52,1% thị phần, giá trị tăng 51,1%) và Braxin (chiếm 38,9% thị phần, giá trị tăng mạnh gấp 2,4 lần).

Về nhập khẩu lúa mì và ngô, tháng 5/2026, Việt Nam nhập khẩu khoảng 250 nghìn tấn lúa mì, trị giá 71,5 triệu USD. Lũy kế 5 tháng đầu năm, tổng khối lượng lúa mì nhập khẩu đạt 4,2 triệu tấn, kim ngạch đạt 1,09 tỷ USD, tăng 54,6% về lượng và tăng 49,8% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Giá lúa mì nhập khẩu bình quân giảm nhẹ 3,1%, ước đạt 257,6 USD/tấn.

Riêng đối với mặt hàng ngô nhập khẩu, hai quốc gia Nam Mỹ là Braxin và Áchentina tiếp tục thống trị thị trường cung ứng cho Việt Nam với thị phần lần lượt là 50,3% và 25,4%. Tuy nhiên, xu hướng dịch chuyển nguồn cung vẫn diễn ra rõ nét khi giá trị nhập khẩu ngô từ Braxin tăng gấp 2,2 lần, trong khi từ Áchentina lại giảm 9,3%.

Xuân Thủy

Thời tiết

Đang tải...

Tỷ giá ngoại tệ

MuaBán
USD26,094.0026,404.00
EUR29,793.9431,364.62
JPY158.90168.99
GBP34,435.8535,897.57
AUD18,277.6919,053.53
CAD18,459.3419,242.90
Nguồn: Vietcombank

Bài viết liên quan