Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO, 2021), dân số toàn cầu sẽ tăng lên 9,7 tỷ người vào năm 2050 và gần 11 tỷ người vào năm 2100, dẫn tới nhu cầu tiêu thụ protein, đặc biệt là các loại thịt động vật, sẽ tăng rất lớn. Để có đủ thịt cung cấp cho dân số toàn cầu cần có cuộc cách mạng về chăn nuôi, trong đó vấn đề cốt lõi có tính quyết định là giải quyết bài toán khó khăn trong sản xuất thức ăn chăn nuôi hiện nay.
Thời gian gần đây, ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi toàn cầu đang đối mặt với nhiều thách thức lớn như biến đổi khí hậu, khan hiếm nguồn cung dẫn đến giá nguyên liệu sản xuất tăng mất kiểm soát. Ngoài ra, áp lực về an toàn thực phẩm đối với con người cũng là thách thức với các nhà sản xuất. Chính vì những lý do vừa nêu, việc tìm hướng đi mới như cải tiến và đa dạng hóa nguồn nguyên liệu đầu vào, đồng thời áp dụng các công nghệ sản xuất tiên tiến nhất trở thành hướng đi tất yếu. Bài viết này đề cập tới 3 loại nguyên liệu và 4 công nghệ mới được các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi áp dụng trong thời gian gần đây.
- Xu hướng sử dụng các loại nguyên liệu mới
Sử dụng côn trùng làm thức ăn bổ sung protein tự nhiên
Côn trùng có nhiều đặc điểm thích hợp để sử dụng làm nguyên liệu bổ sung protein trong khẩu phần ăn của hầu hết các loại vật nuôi truyền thống như cá, gia cầm, lợn và trâu bò. Với hàm lượng protein thô lên tới 25 – 40% cùng nhiều dưỡng chất như khoáng, vitamin… các sản phẩm từ côn trùng có thể thay thế hoàn toàn đậu nành và bột cá.
Bảng 1. So sánh tiềm năng sản xuất protein của côn trùng với nguồn protein truyền thống
| Nguồn protein | Tổng năng suất (kg/m 2) | Tiềm năng canh tác theo chiều dọc (hàng) | Số lần sản xuất/năm | Tỷ lệ protein ăn được (%) | Sản lượng protein (kg/m2/ năm) |
| Đậu nành | 0,29 | 1 | 1 | 35,0 | 0,11 |
| Thịt bò | 0,08 | 1 | 0,8 | 12.4 | 0,99 |
| Thịt lợn | 78 | 1 | 2.0 | 13.6 | 10,6 |
| Thịt gà | 62 | 1 | 7,8 | 14.3 | 8,86 |
| Ấu trùng giun quế | 1.658 | 20 | 4.1 | 18.7 | 310,4 |
| Dế trưởng thành | 7.522 | 5 | 9,9 | 20,5 | 1542,1 |
| Ấu trùng ruồi lính đen | 4.467 | 8 | 18.3 | 17,5 | 781,7 |
Nguồn: Józefiak Damian & cs (2016); Liz Koutsos & cs (2019)
Số liệu của bảng 1 cho thấy so với các nguồn sản xuất protein khác, côn trùng sử dụng đất hiệu quả hơn rất nhiều. Các chỉ tiêu như sản lượng/năm, mức độ canh tác theo chiều dọc, số chu kỳ sản xuất và sản lượng protein/năm đều cao hơn so với đậu nành và các loại thịt khác. Sản lượng protein do ruồi lính đen sản xuất ra/năm/đơn vị diện tích cao hơn 1000 lần so với đậu nành và bò, cao hơn 5-6 lần so với lợn và gà (Liz Koutsos et al., 2019). Một nghiên cứu cho thấy để sản xuất 1 tấn dế, tương đương với khoảng 600 kg protein, cần khoảng 2,8 tấn thức ăn với diện tích 3.100 m2, thời gian cần 3 tháng. Trong khi đó để sản xuất 1 tấn đậu nành, tương đương với khoảng 50 kg protein, cần khoảng 3.200m2 và mất một năm (FAO, 2021). Hàm lượng nước ảo (lượng nước cần thiết để sản xuất một sản phẩm) cho 1 kg thịt gà, thịt lợn hoặc thịt bò trên toàn thế giới lần lượt là 1.498, 2.819 và 9.678 lít nước (Chapagain và Hoekstra 2003), trong khi đó 1 kg sâu bột vàng chỉ cần 25 lít nước, nếu tính cả nước trồng trọt sản phẩm để nuôi sâu bột thì cũng chỉ cần 713 lít/kg (Oonincx và De Boer, 2012 ).
Một khía cạnh đáng chú ý khác của việc nuôi côn trùng đó là chúng có thể ăn chất thải hữu cơ, thải ra ít khí nhà kính và amoniac hơn so với vật nuôi thông thường, qua đó giúp giảm ô nhiễm môi trường. Tác giả Bühler (2019) đã đề xuất giải pháp công nghệ nuôi ruồi lính đen với chi phí tiết kiệm, giảm ô nhiễm hơn nhiều lần so với nuôi gà (nuôi gà đòi hỏi diện tích đất gấp 13 lần, lượng nước gấp 7 lần, lượng khí thải CO2 gấp 5,5 lần và năng lượng gấp 1,5 lần so với nuôi ấu trùng ruồi lính đen).
Do có những ưu điểm vượt trội nên ngành sản xuất côn trùng đã phát triển mạnh trong thời gian qua. Theo công bố của Abraham Rowe (2020) quy mô toàn cầu đã đạt 1,0 đến 1,2 nghìn tỷ côn trùng/năm (so với khoảng 22 tỷ con gà, loại thịt phổ biến nhất hiện nay), sản lượng đạt trên 70.000 tấn. Châu Á và châu Phi có sản lượng côn trùng chiếm khoảng 70% toàn cầu, các quốc gia nuôi nhiều côn trùng nhất trên thế giới là Thái Lan, Pháp, Nam Phi, Trung Quốc, Canada và Hoa Kỳ. Công ty RaboResearch (Hà Lan) dự đoán, hoạt động sản xuất protein côn trùng toàn cầu để làm thức ăn chăn nuôi có thể đạt 500.000 tấn vào năm 2030, tuy nhiên mới chiếm 1% thị trường thức ăn chăn nuôi toàn cầu.
Liên Hợp Quốc và Chính phủ các nước đã và sẽ ban hành nhiều chính sách nhằm thúc đẩy phát triển lĩnh vực côn trùng ăn được, qua đó dự báo thị trường này sẽ có tăng trưởng khoảng 20%/năm và đạt quy mô trên 17 tỷ USD trong 10 năm tới. Hiện có khoảng trên 500 công ty trên toàn cầu đầu tư vào lĩnh vực côn trùng với giá trị khoảng gần 3 tỷ USD.

Hình 1. Khai thác và sử dụng côn trùng làm thức ăn chăn nuôi
Tăng cường sử dụng tảo biển
Tảo biển đóng vai trò quan trọng đối với ngành chăn nuôi bởi chúng cung cấp nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng cho động vật. Tảo biển giàu protein, khoáng chất và vitamin, giúp hỗ trợ sự phát triển khỏe mạnh của động vật. Nhiều nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi đang sử dụng tảo biển để tạo ra thức ăn chăn nuôi chất lượng cao hơn.
Bảng 2. Thành phần dinh dưỡng của một số loại vi tảo
| TT | Loại tảo biển | Hàm lượng (% vật chất khô) | ||
| Protein | Carbonhydrate | Lipid | ||
| 1 | Anabaena cylindrica | 43-56 | 25-30 | 4-7 |
| 2 | Chlamydomonas rheinhardii | 48 | 17 | 21 |
| 3 | Chlorella vulgaris | 51-58 | 12-17 | 14-22 |
| 4 | Dunaliella salina | 57 | 32 | 6 |
| 5 | Porphyridium cruentum | 28-39 | 40-57 | 9-14 |
| 6 | Scenedesmus obliquus | 50-56 | 10-17 | 12-14 |
| 7 | Spirulina maxima | 60-71 | 13-16 | 6-7 |
| 8 | Spirulina platensis | 46-63 | 8-14 | 4-9 |
| 9 | Arthrospira maxima | 60-71 | 13-16 | 6-7 |
Nguồn: Jones & Brown (2020); Kebreab & Roque (2021)
Ngoài khía cạnh dinh dưỡng, sử dụng tảo biển làm thức ăn chăn nuôi thay thế các nguyên liệu truyền thống giúp giảm thiểu nhu cầu sử dụng thực phẩm chăn nuôi thông thường, từ đó giảm tác động môi trường tiêu cực. Jones & Brown (2020) ghi nhận rằng sử dụng tảo biển giúp giảm 30% khí thải methane từ bò sữa. Nghiên cứu của Kebreab & Roque (2021, Đại học California, Davis) cho thấy việc bổ sung rong biển Asparagopsis taxiformis vào khẩu phần bò thịt giúp giảm tới 82% lượng khí mê-tan thải ra. Ngoài ra tảo biển giúp cải thiện hiệu quả sản xuất và an toàn chăn nuôi.
Sự kiện Breizh Algae Tour (2014, Pháp) nhấn mạnh rằng chiết xuất từ tảo biển giúp nâng cao vệ sinh, sức khỏe và khả năng hấp thụ dinh dưỡng của vật nuôi, từ đó tăng hiệu suất chăn nuôi lên 23-34%. Ngoài ra, tảo biển còn giúp giảm phát thải khí nhà kính, tăng cường sức khỏe vật nuôi và mang lại lợi ích kinh tế, góp phần vào xu hướng phát triển bền vững trong ngành chăn nuôi.
Theo FAO, sản lượng tảo biển toàn cầu cho chăn nuôi dự kiến sẽ tăng dần. Năm 2020, thế giới đã sản xuất khoảng 32,6 triệu tấn tảo biển, trong đó khoảng 65% được sử dụng làm thức ăn cho gia súc, đặc biệt là gia cầm và nuôi trồng thủy sản. FAO dự đoán rằng sản lượng tảo biển sẽ tiếp tục tăng khoảng 10% mỗi năm và sẽ đạt khoảng 80 triệu tấn vào năm 2030.
Sử dụng protein đơn bào (SCP) thay thế nguồn protein truyền thống
Protein đơn bào đã được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới như một nguồn dinh dưỡng thay thế trong chăn nuôi. Năm 2017, Jones và cộng sự đã công bố trên tạp chí Animal Feed Science and Technology rằng SCP từ nấm men có thể thay thế bột cá trong thức ăn cho cá hồi, giúp cải thiện tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn. Tương tự, nghiên cứu của Overland và cộng sự (2010) trên tạp chí Trends in Biotechnology đã chỉ ra rằng SCP từ vi khuẩn khí metan có thể thay thế một phần đậu nành trong khẩu phần ăn của lợn, mang lại hiệu quả kinh tế và giảm áp lực lên nguồn tài nguyên đất nông nghiệp. Ngoài ra, theo báo cáo của FAO, SCP từ tảo và vi khuẩn có thể cung cấp nguồn protein bền vững cho chăn nuôi, đồng thời giảm thiểu tác động môi trường so với các nguồn protein truyền thống. Những nghiên cứu này nhấn mạnh tiềm năng của SCP trong việc cải thiện hiệu quả chăn nuôi và giảm thiểu tác động môi trường. Brown et al (2023) cho thấy SCP có hàm lượng dinh dưỡng tương đương bột đậu nành nhưng tiết kiệm tài nguyên hơn.
Bảng 3. Hàm lượng dinh dưỡng các nhóm vi sinh vật sản xuất protein đơn bào (% VCK)
| Thành phần dinh dưỡng (%) | Nấm | Tảo lớn | Nấm men | Vi khuẩn |
| Protein | 30–45 | 40–60 | 45–55 | 50–65 |
| Chất béo | 2–8 | 7–20 | 2–6 | 1–3 |
| Ash | 9–14 | 8–10 | 5–10 | 3–7 |
| Nucleic acid | 7–10 | 3–8 | 6–12 | 8–12 |
Nguồn: Wang & cs (2021); Brown & cs (2023)
Theo dự báo của Global Market insights (2022) quy mô thị trường protein đơn bào được định giá vào khoảng 13,1 tỷ đô la Mỹ từ năm 2022 và ước tính sẽ đạt 75,9 tỷ đô la Mỹ vào năm 2032 với tốc độ tăng trưởng đạt 19,4%/năm, trong đó khoảng 75% dành cho thức ăn chăn nuôi.


Hình 2. Sản xuất và chế biến tảo biển làm thức ăn chăn nuôi
Bảng 4. So sánh thành phần dinh dưỡng của một số nguồn protein thay thế
| Nguồn protein | Protein thô (%) | Chất béo (%) | Chất xơ (%) | Giảm tác động môi trường (%) |
| Bột côn trùng | 55 | 15 | 5 | 40 |
| Tảo biển | 30 | 2 | 20 | 30 |
| Protein đơn bào | 65 | 3 | 1 | 50 |
| Thịt bò | 18 | 12 | 4 | 0 |
| Thịt lợn | 15 | 21 | 3 | 5 |
| Đậu nành | 30 | 11 | 22 | 15 |
Nguồn: Józefiak Damian & cs (2016); Liz Koutsos & cs (2019); Martinez & cs (2023).
Sử dụng phế phẩm nông nghiệp làm thức ăn chăn nuôi
Việc sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn chăn nuôi đã được nghiên cứu rộng rãi, mang lại nhiều lợi ích về tăng trưởng và hiệu quả kinh tế. Rất nhiều nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả của sử dụng các phế phụ phẩm nông nghiệp như bã đậu nành lên men, bã ngô khô (DDGS), rơm ủ men, bã dầu lạc…thay thế một phần nguyên liệu truyền thống trong thức ăn chăn nuôi đã cải thiện hiệu suất tăng trưởng và sức khỏe vật nuôi, giảm chi phí thức ăn và cải thiện môi trường.
Theo số liệu của FAO (2023) tổng sản lượng phế phụ phẩm nông nghiệp toàn cầu ước đạt 1,4 tỷ tấn, riêng Việt Nam đạt khoảng 165 triệu tấn/năm. Khoảng hơn 30% thực phẩm bị thất thoát dưới dạng chất thải từ khâu thu hoạch đến khâu tiêu dùng. Trên toàn cầu, 31% phần trăm thực phẩm có giá trị ước tính 400 tỷ đô la bị thất thoát từ khâu thu hoạch đến khâu bán lẻ và tiêu thụ (FAO, 2019, UNEP 2021 ). Lượng chất thải thực phẩm (FW) ở các nước công nghiệp hóa khoảng 322 triệu tấn, gần bằng tổng sản lượng lương thực ở các quốc gia Châu Phi cận Sahara (330 triệu tấn) (Gustavsson và cộng sự, 2021 ).
Các sản phẩm phụ được tạo ra từ lượng thức ăn bị mất và chất thải bao gồm các phần có thể được sử dụng làm thành phần thức ăn chăn nuôi, chúng có thể bắt nguồn từ (1) chế biến ngũ cốc và hạt có dầu. (2) các quy trình lên men như sản xuất bia, chưng cất ethanol; (3) chế biến trái cây và rau quả; (4) chế biến gia súc. Hiện tại, một phần đáng kể phế phụ phẩm từ quá trình chế biến ngũ cốc, đậu, hạt có dầu và các mặt hàng như khoai tây được tái sử dụng ở Bắc Mỹ. Tương tự như vậy, khoảng 60% chất thải đô thị hằng ngày được chuyển đổi thành thức ăn chăn nuôi ở Nhật Bản và Hàn Quốc, khiến họ trở thành những nước dẫn đầu toàn cầu trong việc chuyển đổi chất thải thành thành phần thức ăn chăn nuôi (Nguyen và Cs, 2017). Trung Quốc và Brazil đã thành công trong việc sử dụng phế phẩm nông nghiệp để thay thế 30% nguyên liệu truyền thống trong thức ăn gia súc.
Nhu cầu toàn cầu về thức ăn chăn nuôi làm từ các sản phẩm phụ nông nghiệp dự kiến sẽ tăng do nhu cầu ngày càng tăng đối với các nguồn thức ăn bền vững và tiết kiệm chi phí. Theo báo cáo của MarketsandMarkets (2024), quy mô thị trường thức ăn chăn nuôi từ các sản phẩm phụ nông nghiệp toàn cầu dự kiến sẽ đạt 42,8 tỷ đô la vào năm 2025, tăng trưởng với tốc độ CAGR là 4,5% từ năm 2020 đến năm 2025 và sẽ đạt khoảng 72 tỷ đô la vào năm 2030. Đây là thị trường rất lớn góp phần giảm chi phí đáng kể trong chăn nuôi bền vững trong tương lai.

Hình 3. Chế biến phế phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn chăn nuôi
- Ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất thức ăn chăn nuôi
Công nghệ enzyme
Trong thời gian qua việc sử dụng kháng sinh để thúc đẩy tăng trưởng, tăng năng suất và ngăn ngừa các bệnh truyền nhiễm trong lĩnh vực dinh dưỡng động vật diễn ra khá phổ biến trên toàn cầu. Tuy nhiên, lạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi mang lại một số rủi ro cho sức khỏe động vật và con người vì đây là nguyên nhân của hiện tượng kháng thuốc của nhiều loại vi khuẩn. Điều này đã khuyến khích các chuyên gia trong ngành tìm kiếm những cách tiếp cận mới, trong đó sử dụng enzyme được coi là một giải pháp thay thế phù hợp nhất và đặc biệt được ưa chuộng. Enzym đã được sử dụng rộng rãi trong tất cả các loại thức ăn cho cả gia súc và gia cầm từ năm 2010 trở lại đây, đặc biệt là trong chế độ ăn có lúa mì hoặc lúa mạch (Choct, 2002 ). Enzym trong thức ăn thường được sản xuất bằng cách lên men nấm và vi khuẩn. Dựa trên các nghiên cứu gần đây, người ta đã chứng minh rằng Enzym trong thức ăn thường có hoạt tính thúc đẩy tiêu hóa các thành phần thức ăn kém tiêu hóa hoặc hoàn toàn không tiêu hóa được như polysaccharides không phải tinh bột , đặc biệt là arabinoxylan và beta-glucan, phytate và protein (Hedemann và cộng sự , 2009; Gerard và cộng sự , 2011). Nếu được bổ sung thường xuyên vào thức ăn chăn nuôi, các Enzyme này giúp tối đa hóa hiệu quả chuyển đổi thức ăn và quan trọng hơn là chúng không hoặc có rất ít tác dụng phụ. Theo nghiên cứu của Zhao et al., (2019) và Lee et al., (2022) Enzyme cải thiện hấp thu dinh dưỡng, giảm 20% chi phí thức ăn, enzyme phytase giúp hấp thụ phosphor tốt hơn, giảm ô nhiễm môi trường.
Báo cáo của Global Market Insights (2022) cho thấy quy mô hiện tại của thị trường là 1,77 tỷ đô la Mỹ vào năm 2022. Dự báo thị trường sẽ tăng trưởng ở tốc độ CAGR là 6,5% và đạt quy mô là 3,37 tỷ đô la Mỹ vào năm 2032.
AI và quản lý thông minh
Công nghệ thông minh và trí tuệ nhân tạo (AI) đang được ứng dụng rộng rãi trong quản lý sản xuất thức ăn chăn nuôi để cải thiện hiệu quả và giảm chi phí. Các hệ thống quản lý thông minh dựa trên AI có thể phân tích dữ liệu lớn về nhu cầu chăn nuôi, tính toán quy trình sản xuất và dự đoán nhu cầu nguyên liệu. Nhờ đó, các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi có thể đặt hàng nguyên liệu chính xác hơn, giảm lãng phí và cải thiện chất lượng sản phẩm. AI giúp tối ưu khẩu phần ăn và dự đoán nhu cầu dinh dưỡng chính xác hơn. Wilson et al. (2022) báo cáo rằng AI giảm 18% lượng thức ăn tiêu thụ nhưng vẫn đảm bảo năng suất.
Theo báo cáo của The Business Reseach Company (2025) Quy mô thị trường AI trong chăn nuôi đã tăng rất nhanh trong những năm gần đây, từ 0,47 tỷ đô la năm 2024 lên 0,6 tỷ đô la năm 2025 với tốc độ tăng trưởng kép hằng năm là 27,2%. Dự báo quy mô thị trường sẽ tiếp tục tăng trưởng theo cấp số nhân trong vài năm tới, sẽ đạt 1,55 tỷ đô la vào năm 2029.
Động lực thúc đẩy tăng trưởng của thị trường này là do tốc độ công nghiệp và đô thị hóa nhanh, nhu cầu về protein tăng, tình trạng khan hiếm đất đai ngày càng rõ rệt, nhận thức về môi trường ngày càng được chú trọng.
Hệ thống sản xuất tự động
Hệ thống sản xuất tự động trong sản xuất thức ăn chăn nuôi giúp tăng hiệu suất và giảm chi phí sản xuất. Hệ thống này bao gồm các thiết bị tự động như máy trộn, máy nghiền và máy đóng gói. Các lợi ích của hệ thống sản xuất tự động bao gồm: Tăng tốc độ sản xuất, giảm chi phí lao động, tăng độ chính xác và giảm sai sót và có thể sản xuất các loại thức ăn chăn nuôi khác nhau.


Hình 4. Ứng dụng hệ thống tự động trong sản xuất thức ăn chăn nuôi
Smith & Johnson (2021) ghi nhận rằng việc áp dụng tự động hóa giúp tăng hiệu suất sản xuất lên 15% và giảm thất thoát nguyên liệu. Việc ứng dụng hệ thống sản xuất thức ăn chăn nuôi tự động đang là xu hướng ngày càng phát triển trên toàn cầu. Nhiều quốc gia đã áp dụng các hệ thống này để nâng cao hiệu quả và năng suất trong sản xuất thức ăn chăn nuôi. Tại Hoa Kỳ, các công ty như Cargill và CHS Inc đã triển khai hệ thống sản xuất thức ăn chăn nuôi tự động để phục vụ cho ngành nông nghiệp chăn nuôi quy mô lớn. Tương tự, ở châu Âu, các quốc gia như Đức và Pháp đã chứng kiến việc áp dụng đáng kể các hệ thống này trong lĩnh vực chăn nuôi gia cầm và lợn của họ. Công nghệ này đã cải thiện chất lượng thức ăn, giảm chi phí lao động và tăng hiệu quả tổng thể của trang trại.
Sử dụng năng lượng tái tạo
Ứng dụng năng lượng tái tạo trong sản xuất thức ăn chăn nuôi là phương pháp sử dụng năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng sinh học, v.v. nhằm giảm thiểu sự phụ thuộc vào các nguồn năng lượng không tái tạo như xăng dầu. Phương pháp này giúp giảm thiểu khí thải nhà kính và bảo vệ môi trường.
Một số ứng dụng năng lượng tái tạo trong sản xuất thức ăn chăn nuôi như: Sử dụng năng lượng mặt trời để sấy khô cám, làm tăng hiệu suất và giảm thiểu năng lượng sử dụng. Nhiều nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi tại châu Âu đã ứng dụng năng lượng mặt trời và sinh khí, giảm 25% chi phí vận hành (Garcia & Lopez, 2022).

Hình 5. Ứng dụng công nghệ năng lượng tái tạo trong sản xuất thức ăn chăn nuôi
Bảng 5. Hiệu quả của ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất thức ăn chăn nuôi
| Công nghệ áp dụng | Cải thiện hiệu suất (%) | Giảm chi phí (%) | Lợi ích môi trường (%) |
| Công nghệ enzyme | 20 | 15 | 25 |
| Tối ưu hóa sản xuất thức ăn bằng AI | 18 | 12 | 30 |
| Hệ thống sản xuất tự động | 15 | 10 | 20 |
| Sử dụng năng lượng tái tạo | 10 | 25 | 45 |
Nguồn: Thompson & cs (2020); Wang & cs (2021). Scott & Robinson (2022).
So với các nghiên cứu trước đây, việc áp dụng nguyên liệu mới và công nghệ cao trong sản xuất thức ăn chăn nuôi đã có bước tiến đáng kể. Ví dụ, nghiên cứu của Anderson (2015) về enzyme chỉ ghi nhận mức cải thiện tiêu hóa 10%, nhưng Zhao et al. (2019) cho thấy mức tăng đạt 20%. Tương tự, nghiên cứu mới nhất của Brown et al. (2023) về SCP khẳng định tính hiệu quả vượt trội so với nghiên cứu của White & Green (2016).
Kết luận
Ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi đang chứng kiến những bước tiến quan trọng với việc áp dụng nguyên liệu mới và công nghệ sản xuất hiện đại. Việc khai thác và sử dụng các nguồn protein thay thế như côn trùng, tảo biển và protein đơn bào có hàm lượng protein cao hơn 15-30% so với các loại protein truyền thống, giảm tác động xấu đến môi trường từ 25-30%. Các công nghệ mới như enzyme, AI, hệ thống quản lý thông minh, năng lượng tái tạo giúp nâng cao năng suất 10 – 20%, giảm phí 12 – 25% và giảm tác động xấu tới môi trường 20 – 45%. Các xu hướng này không chỉ là giải pháp cho bài toán khan hiếm nguyên liệu mà còn đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm và phát triển bền vững. Trong tương lai, việc đầu tư nghiên cứu và áp dụng những xu hướng này sẽ là yếu tố quan trọng để tối ưu hóa hiệu quả chăn nuôi và đảm bảo an ninh lương thực toàn cầu.
GS.TS. Nguyễn Duy Hoan
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Tài liệu tham khảo
- Anderson, J. (2015). Enzyme efficiency in animal feed. Journal of Veterinary Nutrition.
- Arnold Van Huis and Laura Gasco (2023) Insects as feed for livestock production. Insect farming for livestock feed has the potential to replace conventional feed. Science 379:138-139
- Assar Ali Shah, Pajaree Totakul, Maharach Matra, Anusorn Cherdthong, Yupa Hanboonsong, and Metha Wanapat (2022). The nutritional composition of various insects and their potential uses as alternative protein sources in animal diets. Animal Bioscience; 35(2): 317-331.
- Belluco Simone, Carmen Losasso, Michela Maggioletti, Cristiana C. Alonzi, Maurizio and G. Paoletti (2013) Edible Insects in a Food Safety and Nutritional Perspective: A Critical Review. Comprehensive Reviews in Food Science and Food Safety
- Brown, T.(2023). Single-cell protein as an alternative feed ingredient. Journal of Agricultural Research.
- Chen, X., & Zhao, Y. (2022). Efficiency of alternative proteins in animal diets. Journal of Veterinary Science.
- Diener B, C. Zurbrügg and K. Tockner (2015). Bioaccumulation of heavy metals in the black soldier fly, Hermetia illucens and effects on its life cycle. Journal of Insects as Food and Feed, 2015; 1(4): 261-270.
- FAO (2021). Looking at edible insects from a food safety perspective. Challenges and opportunities for the sector. Rome. https://doi.org/10.4060/cb4094en
- Garcia, M., & Lopez, R. (2022). Renewable energy in feed mills. European Journal of Agricultural Science.
- Jones, R., & Brown, L. (2020). Seaweed as a methane reducer in dairy cattle nutrition. Animal Feed Science.
- Kim, Y. (2019). “Algae as an alternative protein source in aquaculture.” Marine Biology Reports.
- Lee, H (2022). Phytase in animal nutrition. International Journal of Animal Science.
- Li, J. (2021). Optimization of feed formulations using machine learning.” Journal of Computational Agriculture.
- Liz Koutsos, Alejandra McComb, Mark Finke (2019). Insect Composition and Uses in Animal Feeding Applications: A Brief Review, Annals of the Entomological Society of America, Volume 112, Issue 6. 544–551, https://doi.org/10.1093/aesa/saz033
- Marketandmarket (2024). Animal Feed Market By Ingredients (Cereals, Cakes & Meals, and By-Products), Additive Type, Form (Mash, Pellets, Crumbles), Livestock (Ruminants, Poultry, Swine, and Aquaculture), Source (Plant-Based and Animal-Based), and Region – Global Forecast to 2029
- Martinez, P. (2023). Nutritional enhancement of animal feed through fermentation.” Journal of Food Biotechnology.
- Patel, S. (2018). Impact of insect-based feed on poultry growth. International Journal of Livestock Research.
- Rodriguez, M. (2023) Reducing environmental impact in livestock feed production. Environmental Sustainability Journal.
- Scott, L., & Robinson, D. (2022). Automation and digitalization in feed mills. International Journal of Agricultural Engineering.
- Singh, R. (2019) Sustainable feed production using agricultural waste. Agricultural Science and Technology.
- Smith, A., & Johnson, K. (2021) Automation in feed production.” Journal of Animal Feed Technology.
- Smith, J. (2021) Insect protein in poultry feed: Performance and cost benefits. Journal of Animal Science.
- The Business Research Company (2025). AI In Livestock Farming Global Market Report
- Thompson, R. (2020) Artificial intelligence in precision livestock farming. Journal of Smart Agriculture.
- Wang H, Sun, X Li, X Cui, J Guo, R Dong (2021). Biofuel residues in animal feed production. Renewable Energy Research.
- White, B., & Green, C. (2016) Comparative study of single-cell protein and soybean meal. Food Science Journal.
- Wilson, P. (2022). AI in livestock nutrition management. Livestock Science.
- Y Zhao, L Zhu, C Lin, Z Shen, C Xu (2019) Enzyme application in feed production. Biotechnology Reports.



