Đang tải...
VIE
English
/Ứng dụng thực tiễn/Tổng quan về ánh sáng trong chăn nuôi gà – Cơ sở khoa học và ứng dụng

Tổng quan về ánh sáng trong chăn nuôi gà – Cơ sở khoa học và ứng dụng

Bạn muốn nghe bài viết?

Kỳ 2:  Ứng dụng ánh sáng trong chăn nuôi

1.     Ứng dụng ánh sáng theo đối tượng gà

Đối tượng gà khác nhau thì chương trình chiếu sáng cũng phải khác nhau. Gà con cần ánh sáng đủ mạnh trong những ngày đầu để tìm thức ăn, nước uống và thích nghi với chuồng nuôi. Chiếu sáng giai đoạn úm phải gắn với nhiệt độ, thông gió, mật độ, giấy úm, máng ăn và máng uống. Cobb khuyến cáo, gà con giống bố mẹ cần ánh sáng liên tục trong 48 giờ đầu sau khi thả, với cường độ tối thiểu khoảng 20 lux để bảo đảm gà tìm được thức ăn và nước uống (Cobb-Vantress, 2008). Gà thịt cần ánh sáng để ăn uống, nhưng cũng cần bóng tối để nghỉ. Quan niệm “sáng càng dài, gà càng ăn nhiều, càng lớn nhanh” là không đúng. Gà thịt hiện đại lớn nhanh, chuyển hóa mạnh; chân, tim mạch và chuyển hóa chịu áp lực lớn. Nếu chiếu sáng gần như liên tục, đàn thiếu pha nghỉ, giảm phúc lợi và dễ rối loạn. Nhiều kết quả cho thấy chương trình 23 giờ sáng/ngày không phù hợp; trong nhiều điều kiện, kết quả nuôi gà thịt tốt hơn khi có khoảng tối rõ ràng, với thời gian sáng khoảng 17–20 giờ/ngày tùy tuổi, giống, mật độ và điều kiện chuồng nuôi (Olanrewaju et al., 2006; Schwean-Lardner & Classen, 2010).

Hình 1. Chương trình chiếu sáng cho gà con từ 1-10 ngày tuổi.

Nguồn: Biên tập theo Cobb-Vantress (2008).

Giải thích hình 1: ngày đầu tiên, cần chiếu sáng 22 giờ; sau đó giảm dần, đến 10 ngày tuổi chỉ cần 16 giờ/ngày là đủ.

Gà hậu bị hướng trứng cần ngày ngắn, ổn định để kiểm soát phát dục. Mục tiêu nuôi gà hậu bị không phải cho đẻ sớm, mà là tạo khung cơ thể, đạt khối lượng chuẩn, đồng đều và có dự trữ sinh lý tốt trước khi vào đẻ. Nếu chiếu sáng quá dài hoặc tăng sáng quá sớm, gà sẽ thành thục khi cơ thể chưa hoàn chỉnh. Hậu quả là trứng đầu kỳ nhỏ, đỉnh đẻ thấp, sức bền đẻ kém và tỷ lệ loại thải cao. Kích thích ánh sáng chỉ được thực hiện khi mà đàn gà đã đạt tuổi, khối lượng và độ đồng đều của đàn cao (Hy-Line International, 2018).

Hình 2. Sơ đồ thời gian và cường độ chiếu sáng cho gà hậu bị theo tuần tuổi

Nguồn: Biên tập theo Hy-Line International (2018).

Giải thích hình 2: trong tuần đầu tiên, chiếu khoảng 20h/ngày, sau đó giảm dần xuống 10h/ngày ở tuần thứ 7; ổn định đến tuần thứ 18, sau đó tăng dần lên, đạt 14h/ngày ở tuần 23. Từ đó ổn định 14h/ngày cho đến hết chu kỳ.

Hình 3. Phân bố thức ăn trong ngày cho gà hậu bị từ 10–16 tuần tuổi trong chương trình ăn hạn chế theo ngày

Nguồn: Biên tập theo Hy-Line International (2018).

Giải thích hình 3: hàng ngày, bật đèn lúc hơn 4h; cung cấp khoảng 40–50% lượng thức ăn trong ngày; buổi trưa máng phải sạch, rỗng; sau đó cho ăn lượng thức ăn còn lại vào buổi chiều, tắt đèn trước 20h.

Gà đẻ thương phẩm cần ánh sáng để vào đẻ đúng tuổi, đạt đỉnh cao và duy trì sản lượng trứng. Sau khi đã kích thích ánh sáng, thời gian chiếu sáng phải ổn định và không giảm đột ngột. Cần nhấn mạnh: 14–16 giờ sáng/ngày không có nghĩa là chiếu tùy ý mà phải đảm bảo đúng lịch chuẩn nhất là liên quan đến 2 hormone FSH và LH. Đỉnh của hormone LH liên quan chặt với nhịp sinh học và thời điểm rụng trứng. Sau đỉnh LH, noãn rụng; trứng đi qua ống dẫn trứng và thường được đẻ vào buổi sáng hôm sau. Nếu chiếu sáng từ sáng sớm đến 23–24 giờ đêm, pha tối bị rút ngắn và bị đẩy lùi quá muộn; nhịp LH hoạt động, sự rụng trứng và thời điểm đẻ sẽ bị lệch, gà thường đẻ muộn đến giữa trưa, thậm chí là sang cả buổi chiều. Vì vậy, nên bật sáng từ 2-3 giờ sáng để tạo ngày dài ổn định. Không nên chiếu kéo dài sau hoàng hôn, sẽ làm mất “đêm sinh lý” của đàn, ảnh hưởng đến hoạt động của LH (Lewis & Morris, 2000; Hy-Line International, 2018; Cassone & Yoshimura, 2022).

Ở giai đoạn đẻ, ánh sáng còn điều khiển hành vi sử dụng ổ đẻ. Vùng máng ăn, máng uống và nền chuồng phải đủ sáng để gà hoạt động; ổ đẻ cần tối i để gà mái cảm thấy yên tĩnh và an toàn. Ổ đẻ quá sáng làm gà không muốn vào ổ. Nếu có góc tối trong chuồng sẽ hấp dẫn gà đến đẻ, ấp… làm tăng nguy cơ đẻ trứng trên nền. Ánh sáng ở gà đẻ, vì vậy, phải vừa phục vụ sinh sản, vừa tổ chức hành vi vào ổ.

Gà giống đẻ trứng hướng thịt nhạy cảm nhất với sai lệch ánh sáng, chúng mang gen tăng trọng nhanh nhưng lại làm nhiệm vụ sinh sản; kỹ thuật nuôi là nghệ thuật “nén” tăng trưởng để giữ sinh sản và chuyển tiềm năng thịt vào gà con giống. Ánh sáng chỉ được dùng để kích thích khi thể trọng, độ đồng đều, thể trạng và dự trữ cơ thể gà mái đã đạt yêu cầu. Kích thích sớm làm gà mái đẻ non, trứng giống nhỏ, tỷ lệ phôi thấp và thời gian sinh sản kém bền. Gà trống cũng phải được quản lý ánh sáng đồng bộ với gà mái để tinh hoàn phát triển đúng lúc, giao phối tốt và duy trì tỷ lệ thụ tinh (Cobb-Vantress, 2008). Gà giống hướng trứng có mục tiêu sinh sản gần với gà đẻ thương phẩm, nhưng yêu cầu cao hơn về trứng giống, tỷ lệ phôi và chất lượng gà con. Ánh sáng phải giúp gà mái vào đẻ đúng tuổi, đẻ ổn định, trứng đạt khối lượng ấp phù hợp; đồng thời giúp gà trống phát dục và phối giống đồng bộ. Nếu mái vào đẻ trước khi trống thành thục, tỷ lệ trứng có phôi giảm. Nếu trống hoạt động quá mạnh khi mái chưa sẵn sàng, đàn gà dễ rối loạn. Chiếu sáng gà giống hướng trứng phải quản lý đồng thời mái và trống, không chỉ nhìn vào tỷ lệ đẻ.

Gà lông màu và gà bản địa ở Việt Nam thường nuôi dài ngày, vận động nhiều và tiếp xúc với ánh sáng tự nhiên nhiều hơn gà công nghiệp. Mục tiêu không chỉ là ăn nhiều mà còn duy trì sức khỏe, giảm stress nhiệt, giữ chất lượng thịt, màu da và khả năng thích nghi. Tuy nhiên, vẫn phải giữ nguyên tắc chung của gà giống: không kích thích khi đàn chưa đạt thể trọng, không để ngày dài tự nhiên làm phát dục sớm, không để ngày ngắn làm giảm đẻ.

Bảng 2. Gợi ý ánh sáng cho một đàn gà giống hướng thịt

Giai đoạn tuổi Mục tiêu Thời gian chiếu sáng Màu ánh sáng Cường độ
1–3 ngày Tìm thức ăn, nước uống, quen chuồng 23 giờ/ngày Trắng ấm/vàng ấm 60–100 lux
4–14 ngày Giảm dần ánh sáng, tập chế độ hậu bị Giảm dần để đạt 8 giờ/ngày lúc 14 ngày Trắng ấm/vàng ấm Giảm về 2–4 lux
3–20 tuần Kìm hãm thành thục sớm, phát triển khung cơ thể 8 giờ/ngày Trắng ấm/vàng ấm 2–4 lux
21 tuần nếu đạt chuẩn Kích thích sinh dục lần đầu 12 giờ/ngày Trắng ấm/vàng ấm 50–100 lux
22 tuần Tiếp tục kích thích 13 giờ/ngày Trắng ấm/vàng ấm 50–100 lux
23–24 tuần Ổn định đáp ứng sinh sản 14 giờ/ngày Trắng ấm/vàng ấm 50–100 lux
25–70 tuần Duy trì đẻ, giao phối và tỷ lệ phôi Ổn định 14 giờ/ngày; chuồng hở có thể 14–16 giờ nhưng không giảm Trắng ấm/vàng ấm 50–100 lux

Nguồn: Tổng hợp và biên tập theo Cobb-Vantress (2008); cần hiệu chỉnh theo dòng giống và điều kiện chuồng nuôi.

Bảng 3. Gợi ý ánh sáng cho một đàn gà giống hướng trứng

Tuổi gà Mục tiêu Thời gian chiếu sáng Màu ánh sáng Cường độ
1 tuần Ăn, uống, quen chuồng 22 giờ/ngày Trắng trung tính đến trắng lạnh 30–50 lux
2–7 tuần Giảm dần kích thích, ổn định hậu bị Giảm từ 20 xuống 11 giờ/ngày Trắng trung tính đến trắng lạnh 10–30 lux
8–16 tuần Giữ ngày ngắn, tránh thành thục sớm 10 giờ/ngày Trắng trung tính đến trắng lạnh 10–15 lux
17 tuần nếu đạt chuẩn Bắt đầu kích thích 12 giờ/ngày Chuyển dần sang trắng ấm 20–25 lux
18–24 tuần Tăng dần kích thích sinh sản 12,5–15,5 giờ/ngày Trắng ấm, đủ phổ đỏ 20–30 lux
25–90 tuần Duy trì đẻ, giao phối, tỷ lệ phôi 16 giờ/ngày, không giảm Trắng ấm, ưu tiên phổ đỏ 20–30 lux

Nguồn: Tổng hợp và biên tập theo Hy-Line International (2018); cần hiệu chỉnh theo dòng giống và tài liệu hãng giống sử dụng.

2. Ứng dụng theo kiểu chuồng nuôi

Có ba kiểu chuồng gà phổ biến là chuồng kín, chuồng hở và chuồng bán kín, cần có cách điều tiết ánh sáng khác biệt để phù hợp. Chuồng kín thuận lợi nhất để chủ động kiểm soát ánh sáng. Có thể điều chỉnh thời gian chiếu sáng, cường độ, màu ánh sáng, độ đồng đều và thời điểm bật tắt theo lịch. Kiểu chuồng này phù hợp với gà broiler công nghiệp, gà hậu bị, gà đẻ cao sản và gà giống cần kiểm soát sinh lý chặt; giúp ngăn ánh sáng ngoài ý muốn, tránh phát dục sớm và kích thích đúng thời điểm (Cobb-Vantress, 2008; Hy-Line International, 2018).

Chuồng hở khó kiểm soát ánh sáng nhất. Ánh sáng không chỉ đến từ bóng đèn mà còn từ mặt trời. Ngày dài, ngày ngắn, mưa âm u, nắng gắt, hướng chuồng, mái che, cây che bóng và vật cản xung quanh đều làm thay đổi quang chu kỳ và cường độ thực tế. Trong chuồng hở không tính chương trình chiếu sáng theo số giờ bật đèn, mà tính tổng thời gian gà tiếp xúc với ánh sáng. Với đàn đẻ mùa đông, bổ sung sáng trước bình minh thường phù hợp hơn vì vừa đủ ngày dài vừa giữ được pha tối sinh lý sau hoàng hôn.

Chuồng bán kín là hệ thống lai giữa 2 loại trên, có quạt, rèm, có thể có tấm làm mát, nhưng vẫn chịu tác động của ánh sáng tự nhiên. Khi rèm mở, ánh sáng lọt vào làm chuồng sáng lệch giữa 2 bên hông chuồng, sáng theo giờ và theo mùa. Khi rèm đóng, ánh sáng phụ thuộc vào đèn và có thể xuất hiện vùng tối, vùng chói. Chuồng bán kín phải được đo ánh sáng thực tế ở nhiều thời điểm: sáng sớm, giữa trưa, chiều muộn và ban đêm. Không nên sao chép nguyên chương trình chuồng kín nếu chuồng vẫn nhận ánh sáng tự nhiên.

Chuồng có ổ đẻ cần ánh sáng theo vùng chức năng. Khu ổ đẻ phải tối tương đối, yên tĩnh và không bị ánh sáng chiếu trực tiếp. Vùng máng ăn, máng uống, sàn và nền phải đủ sáng để gà ăn, uống, đi lại bình thường. Ổ đẻ quá sáng làm gà mái giảm vào ổ. Nền có góc tối làm tăng nguy cơ đẻ nền.

Chuồng lồng không có ổ đẻ, gà đẻ ra đáy lồng; ánh sáng phải đến được các tầng lồng, các dãy lồng và vùng máng ăn. Nếu tầng trên quá sáng, tầng dưới quá tối, đàn sẽ khác nhau về hoạt động, lượng ăn, khối lượng cơ thể và năng suất. Trong chuồng nền hoặc chuồng thả, trọng điểm là vùng sáng – tối trên nền, quanh máng ăn, máng uống, ổ đẻ và nơi gà tụ đàn. Nguyên tắc chung là: chuồng kín phải chống rò sáng và vận hành chính xác; chuồng hở phải tính ánh sáng tự nhiên và mùa vụ; chuồng bán kín phải đo ánh sáng theo thời điểm và trạng thái rèm; chuồng có ổ đẻ phải dùng ánh sáng để hướng gà vào ổ; chuồng lồng phải giảm chênh lệch ánh sáng giữa các tầng. Không có công thức chung cho mọi chuồng. Phải đo thực tế và kiểm tra bằng phản ứng của đàn gà.

3. Sai lầm thường gặp trong quản lý ánh sáng

Trong chăn nuôi gà, việc quản lý ánh sáng thường có một số sai lầm sau đây.

  1. Coi ánh sáng chỉ là để nhìn, bỏ qua vai trò sinh học của ánh sáng; quản lý ánh sáng bằng cảm giác của mắt người. Cần phải thây đổi, phải đo, lập chương trình và kiểm tra phản ứng đàn theo khoa học (Martin, 2022).
  2. Tính sai quang chu kỳ. Trong chuồng hở và chuồng bán kín, gà nhận cả ánh sáng tự nhiên và ánh sáng nhân tạo. Nếu chỉ tính giờ bật đèn, chương trình sẽ sai. Gà hậu bị có thể bị ngày dài tự nhiên kích thích phát dục sớm; gà đang đẻ có thể giảm sản lượng khi ngày ngắn hoặc khi pha tối bị phá vỡ.
  3. Không “sắm” máy đo cường độ và độ đồng đều ánh sáng (trong khi máy này rất rẻ, chỉ có giá vài trăm đến dưới 1 triệu đồng). Cường độ phải đo tại tầm mắt gà, ở nhiều vị trí. Cường độ quá thấp làm gà kém hoạt động, khó tìm thức ăn, nước uống và ổ đẻ. Cường độ quá cao làm gà kích động, tăng mổ cắn và stress. Vùng quá sáng, quá tối hoặc rò sáng đều có thể làm đàn phân bố lệch (Bahuti et al., 2023).
  4. Kích thích ánh sáng khi đàn hậu bị chưa đạt chuẩn hoặc giảm sáng trong kỳ đẻ, không để ý đến khối lượng cơ thể, độ đồng đều và dự trữ thể trạng. Tăng sáng khi gà còn nhẹ cân hoặc không đồng đều có thể làm đàn vào đẻ sớm nhưng trứng nhỏ, đỉnh thấp và sức bền kém. Khi gà đã vào đẻ, giảm sáng đột ngột có thể làm giảm sản lượng hoặc kích thích thay lông ngoài ý muốn (Cobb-Vantress, 2008; Hy-Line International, 2018).
  5. Chiếu sáng gần như liên tục cho gà thịt trong khi chúng không chỉ ăn mà cũng cần tối để nghỉ. Khoảng tối giúp duy trì nhịp sinh học, giảm kích động, hỗ trợ sức khỏe chân và phúc lợi. Chương trình 23 giờ sáng/ngày là không tốt cho gà thịt hiện đại (Olanrewaju et al., 2006; Schwean-Lardner & Classen, 2010).
  6. Chọn đèn chỉ theo công suất (số watt) mà không chú ý đến màu sáng. Hai bóng đèn cùng công suất nhưng có thể khác nhau về cường độ, phổ, góc chiếu, độ nhấp nháy và độ bền… do đó có tác dụng khác nhau khi chiếu cho đàn gà. Khi đàn gà bị nhẹ cân, kém đồng đều, nóng, thiếu thông gió, mật độ cao hoặc ổ đẻ bất hợp lý thì không thể sửa chỉ bằng tăng chiếu sáng.
  7. Quản lý ánh sáng chỉ thực hiện trên giấy, không đo trong chuồng. Người nuôi gà phải trả lời ba câu hỏi: chương trình có đúng không, ánh sáng thực tế có đúng không và đàn gà phản ứng thế nào. Nếu không đo lux, không kiểm tra rò sáng, không theo dõi phân bố đàn, lượng ăn, khối lượng, tỷ lệ đẻ, trứng nền và mổ cắn, chương trình ánh sáng chỉ là lý thuyết.

PGS.TS. Bùi Hữu Đoàn

Kỳ 3:  Định hướng ứng dụng trong điều kiện Việt Nam

Thời tiết

Đang tải...

Tỷ giá ngoại tệ

MuaBán
USD26,102.0026,412.00
EUR29,667.8131,231.86
JPY158.58168.66
GBP34,384.1935,843.75
AUD18,062.7918,829.53
CAD18,355.7919,134.97
Nguồn: Vietcombank

Bài viết liên quan