Đang tải...
VIE
English
/Giá nguyên liệu/Tìm nguồn nguyên liệu trong nước: Hướng đi chiến lược để giảm giá thành thức ăn chăn nuôi trong bối cảnh địa chính trị biến động

Tìm nguồn nguyên liệu trong nước: Hướng đi chiến lược để giảm giá thành thức ăn chăn nuôi trong bối cảnh địa chính trị biến động

Bạn muốn nghe bài viết?

(TĂCN)- Những năm gần đây, ngành Thức ăn chăn nuôi Việt Nam liên tục đối mặt với những đợt sóng lớn từ thị trường toàn cầu. Biến động địa chính trị, xung đột khu vực, xu hướng bảo hộ thương mại, cùng với biến đổi khí hậu và gián đoạn chuỗi cung ứng đã khiến giá nguyên liệu thế giới tăng mạnh và thiếu ổn định. Là quốc gia nhập khẩu phần lớn nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi như ngô, khô đậu tương, lúa mì, bột cá…, Việt Nam chịu tác động trực tiếp và sâu sắc từ các biến động này.

Ngô là nguyên liệu chủ lực trong thức ăn chăn nuôi.

Ảnh: Xuân Bình.

Khi giá nguyên liệu tăng, chi phí sản xuất thức ăn chăn nuôi lập tức bị đẩy lên cao. Mà thức ăn lại chiếm tới 65–75% giá thành chăn nuôi, nên mọi biến động đều lan truyền nhanh chóng sang toàn chuỗi giá trị. Người chăn nuôi chịu áp lực, doanh nghiệp sản xuất bị thu hẹp biên lợi nhuận, còn người tiêu dùng cuối cùng phải gánh mức giá thực phẩm cao hơn. Trong bối cảnh đó, câu hỏi đặt ra không chỉ là làm sao mua được nguyên liệu rẻ hơn từ nước ngoài, mà quan trọng hơn là: liệu chúng ta có thể chủ động hơn bằng chính nguồn lực trong nước?

Thực tế cho thấy, Việt Nam không phải là quốc gia thiếu tiềm năng nguyên liệu. Vấn đề nằm ở cách tổ chức, đầu tư và liên kết. Từ lâu, các loại cây trồng như ngô, sắn đã đóng vai trò quan trọng trong nông nghiệp. Sắn có sản lượng lớn, phù hợp với nhiều vùng sinh thái; ngô đang được mở rộng diện tích ở Tây Nguyên, trung du miền núi phía Bắc và một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Nếu được quy hoạch vùng nguyên liệu bài bản, áp dụng giống năng suất cao và kỹ thuật canh tác tiên tiến, đây hoàn toàn có thể trở thành nguồn cung năng lượng ổn định cho ngành thức ăn chăn nuôi.

Bên cạnh đó, nguồn phụ phẩm từ ngành chế biến nông sản – thực phẩm trong nước vẫn còn nhiều dư địa khai thác. Bã bia, bã rượu, cám gạo, phụ phẩm tinh bột sắn hay phụ phẩm thủy sản từ các nhà máy chế biến cá, tôm đều có thể được xử lý, nâng cấp thành nguyên liệu giá trị cao. Việt Nam là quốc gia có ngành thủy sản phát triển mạnh; mỗi năm, lượng phụ phẩm phát sinh rất lớn. Nếu được đầu tư công nghệ chế biến hiện đại để bảo toàn dinh dưỡng, đây sẽ là nguồn đạm quan trọng, góp phần giảm phụ thuộc vào bột cá nhập khẩu.

Đối với đạm thực vật, bài toán khô đậu tương nhập khẩu từ lâu đã đặt ra yêu cầu phát triển vùng nguyên liệu trong nước. Dù điều kiện tự nhiên có những hạn chế nhất định, nhưng với chiến lược chọn giống phù hợp, cơ giới hóa sản xuất và liên kết chuỗi giữa doanh nghiệp – nông dân – nhà khoa học, việc từng bước nâng tỷ lệ tự chủ là hoàn toàn khả thi. Không nhất thiết phải thay thế hoàn toàn, nhưng chỉ cần tăng thêm một tỷ lệ đáng kể nguyên liệu nội địa cũng đã giúp giảm áp lực ngoại tệ và rủi ro thị trường.

Ngoài nguyên liệu thô, lĩnh vực phụ gia và giải pháp sinh học cũng mở ra cơ hội lớn. Các chế phẩm enzyme, probiotics, axit hữu cơ… nếu được nghiên cứu và sản xuất trong nước sẽ giúp cải thiện khả năng tiêu hóa, tăng hiệu quả sử dụng nguyên liệu nội địa, từ đó gián tiếp hạ giá thành. Đây là hướng đi mang tính công nghệ cao, đòi hỏi đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, nhưng lại có giá trị gia tăng lớn và bền vững.

Với sản lượng lúa lớn, cả nước có lượng đáng kể phụ phẩm từ chế biến gạo (cám, tấm, trấu).

Ảnh: Xuân Bình.

Tuy nhiên, chuyển từ tiềm năng sang hiện thực không phải là con đường bằng phẳng. Một trong những rào cản lớn nhất là tính ổn định và đồng đều của nguyên liệu nội địa. Sản xuất còn manh mún, phân tán khiến chất lượng không đồng nhất, gây khó khăn cho việc xây dựng công thức tối ưu. Công nghệ sau thu hoạch và chế biến còn hạn chế, làm giảm giá trị dinh dưỡng thực tế. Bên cạnh đó, thiếu các tiêu chuẩn và hệ thống chứng nhận minh bạch cũng khiến doanh nghiệp e ngại khi đưa nguyên liệu nội vào sản xuất quy mô lớn.

Vì vậy, chiến lược phát triển nguyên liệu trong nước không thể chỉ dừng ở lời kêu gọi, mà cần một hệ sinh thái liên kết chặt chẽ. Doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi nên chủ động tham gia xây dựng vùng nguyên liệu thông qua hợp đồng bao tiêu, hỗ trợ kỹ thuật và đầu tư đầu vào cho nông dân. Nhà nước cần có chính sách khuyến khích về tín dụng, thuế và đất đai cho các dự án phát triển vùng trồng, chế biến nguyên liệu. Các viện nghiên cứu và trường đại học cần đồng hành trong việc chọn tạo giống, tối ưu công nghệ chế biến và đánh giá dinh dưỡng.

Khi tỷ trọng nguyên liệu trong nước tăng lên, lợi ích không chỉ dừng ở việc giảm giá thành. Đó còn là câu chuyện về an ninh nguồn cung, về việc giảm phụ thuộc vào những biến động khó lường của thế giới, về việc giữ lại giá trị gia tăng trong nước và nâng cao thu nhập cho người nông dân. Một ngành thức ăn chăn nuôi chủ động về nguyên liệu sẽ tạo nền tảng vững chắc cho toàn bộ ngành chăn nuôi phát triển bền vững và cạnh tranh hơn trên thị trường khu vực.

Trong bối cảnh địa chính trị toàn cầu còn nhiều bất định, việc tái cấu trúc nguồn nguyên liệu theo hướng nội địa hóa không còn là lựa chọn mang tính chiến thuật, mà đã trở thành một chiến lược dài hạn. Nếu được triển khai đồng bộ và quyết liệt, đây sẽ là chìa khóa giúp ngành thức ăn chăn nuôi Việt Nam không chỉ vượt qua giai đoạn khó khăn hiện nay, mà còn vươn lên mạnh mẽ trong chuỗi giá trị nông nghiệp toàn cầu.

Nguyễn Đình Toàn

GĐ Nhà máy chế biến TACN Dabaco Kinh Bắc – Dabaco group.

Thời tiết

Đang tải...

Tỷ giá ngoại tệ

MuaBán
USD26,055.0026,325.00
EUR29,404.3530,954.56
JPY158.85168.94
GBP34,040.2735,485.27
AUD18,056.7418,823.25
CAD18,684.0919,477.23
Nguồn: Vietcombank

Bài viết liên quan