Đang tải...
VIE
English
/Dự báo/Thức ăn chăn nuôi – Động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành Chăn nuôi Việt

Thức ăn chăn nuôi – Động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành Chăn nuôi Việt

Bạn muốn nghe bài viết?

(TĂCN) – Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, ngành Chăn nuôi Việt Nam đã và đang khẳng định vai trò trụ cột trong cơ cấu nông nghiệp nước nhà. Để đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho hơn 100 triệu dân và hướng tới mục tiêu xuất khẩu, ngành Chăn nuôi những năm gần đây đã có những bước tiến vượt bậc cả về quy mô lẫn chất lượng. Trong đó, ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi (TACN) đóng vai trò là “mắt xích” then chốt, đảm bảo nguồn cung đầu vào ổn định và thúc đẩy giá trị gia tăng cho toàn Ngành.

Sản xuất thức ăn chăn nuôi tại Công ty TNHH Nasaco được hệ thống Robot tự động xếp bao lên pallet. Ảnh: Xuân Bình.

Theo báo cáo tổng hợp từ Cục Chăn nuôi và Thú y, năm 2025 ghi nhận sự tăng trưởng ổn định của đàn gia súc, gia cầm, khẳng định vị thế của Việt Nam trên bản đồ chăn nuôi thế giới.

Chăn nuôi lợn, tiếp tục là phân khúc chủ lực với tổng đàn đạt 26,55 triệu con (nếu tính cả lợn con chưa tách mẹ, con số này lên tới 31,2 triệu con). Với mức tăng trưởng 0,3% so với cùng kỳ năm trước, Việt Nam hiện đứng thứ 5 thế giới về quy mô đàn lợn.

Chăn nuôi gia cầm, ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng 2,8% so với cùng kỳ năm 2024, đưa tổng đàn lên con số 583,98 triệu con.

Chăn nuôi đại gia súc: Ngược lại, đàn trâu bò có xu hướng giảm nhẹ, đàn trâu đạt 2,0 triệu con (giảm khoảng 4%), đàn bò đạt 6,18 triệu con (giảm khoảng 1,1%). Nguyên nhân chính được xác định là do nhu cầu sức kéo trong nông nghiệp giảm dần và quỹ đất dành cho đồng cỏ ngày càng hạn chế. Đáng chú ý, ngành chăn nuôi đang chứng kiến một cuộc chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ. Từ phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán, ngành đang tiến nhanh sang mô hình chăn nuôi tập trung, hiện đại và công nghiệp hóa. Các trang trại được tách rời khỏi khu dân cư nhằm tuân thủ nghiêm ngặt Luật Chăn nuôi và đáp ứng các tiêu chuẩn về an toàn sinh học, giảm thiểu rủi ro dịch bệnh.

Năm 2025, tổng sản lượng thức ăn hỗn hợp đạt hơn 22 triệu tấn. Ảnh: Xuân Bình.

Để cung ứng nguồn dinh dưỡng khổng lồ cho đàn vật nuôi, hệ thống hạ tầng sản xuất TACN đã được đầu tư bài bản. Hiện nay, cả nước có 269 nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi đang hoạt động với tổng công suất thiết kế lên tới 43,2 triệu tấn/năm. Trong đó, 90 nhà máy thuộc sở hữu của doanh nghiệp FDI (chiếm 33,5% về số lượng; 51,3% về công suất thiết kế) và 179 nhà máy thuộc doanh nghiệp trong nước (chiếm 66,5% về số lượng và 48,7% về công suất thiết kế).

Mặc dù số lượng ít hơn, nhưng các doanh nghiệp FDI thường sở hữu công suất lớn và công nghệ tiên tiến, tạo ra áp lực cạnh tranh tích cực, buộc các doanh nghiệp trong nước phải không ngừng đổi mới. Năm 2025, tổng sản lượng thức ăn hỗn hợp đạt 22,12 triệu tấn, tăng 2,9% so với năm 2024, với sản lượng trên sản xuất thức ăn chăn nuôi của Việt Nam đang đứng thứ 12 thế giới và đứng đầu Đông Nam á. Tuy nhiên, sản lượng này mới chỉ khai thác được khoảng 51,2% công suất thiết kế, cho thấy tiềm năng mở rộng sản xuất trong tương lai vẫn còn rất lớn.

Bảng 1. Sản lượng thức ăn hỗn hợp

Diễn giải ĐVT Năm 2024 Năm 2025
Sản lượng % % %
Tổng sản lượng Nghìn tấn 21.500 100 22,120 100
Thức ăn hỗn hợp cho lợn Nghìn tấn 11.202 52,1 11,597 52,34
Thức ăn hỗn hợp gia cầm Nghìn tấn 9.5266 44,4 9,813 44,43
Thức ăn hỗn hợp cho bò và động vật khác Nghìn tấn 753 3,5 707 3,23

Nguồn : Cục Chăn nuôi và Thú y.

Số liệu cho thấy cơ cấu sản xuất đang bám sát nhu cầu thị trường. Thức ăn cho lợn chiếm tỷ trọng cao nhất (52,34%), tiếp sau là gia cầm (44,43%). Điều này phản ánh đúng thực tế chăn nuôi tại Việt Nam, nơi thịt lợn và thịt gia cầm là hai nguồn thực phẩm thiết yếu nhất.

Dù năng lực sản xuất cao, ngành TACN Việt Nam vẫn đối mặt với thách thức lớn về tính tự chủ nguyên liệu. Việc phụ thuộc vào nhập khẩu vẫn là một đặc thù lớn của Ngành trong năm 2025.

Bảng 2. Thống kê nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi năm 2025

STT Loại nguyên liệu Khối lượng

( Tấn )

Giá trị bằng tiền

( USD)

1 Ngô (hạt, bột) 10.911.598,5 2.720.852.456,8
2 Lúa mỳ 2.371.064,1 597.619.641,8
3 DDCS 1.543.851,4 369.457.118,4
4 Cám mỳ các loại 621.204,1 107.653.373,2
5 Đậu tương (hạt, bột) 461.479,58 206.882.520,64
6 Khô đậu 5.442.081,95 2.156.472.326,8
7 Khô cải 290.972,91 67.441.488,97
8 Khô cọ 529.921,49 77.226.901,59
9 Khô dầu các loại khác 39.150,0 11.220.165,0
10 Thức ăn bổ sung 940.829,0 1.044.040.071,7
11 Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh 30.030,5 46.336.962,2
12 Cỏ khô 65.531,9 24.020.476,6
13 Sản phẩm từ động vật 826.241,5 516.090.537,4
14 Các loại khác 704.348,1 293.434.340,6
Tổng 24.788.305,0 8.238.748.381,7

Nguồn : Cục Chăn nuôi và Thú y.

Như vậy cùng với sản xuất trong nước, việc nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi vẫn giữ tỷ trọng lớn và có vai trò quan trọng trong sản xuất thức chăn nuôi Việt Nam. Tổng khối lượng nhập khẩu đạt 24,78 triệu tấn, tương đương trị giá 8,24 tỷ USD. Trong đó, nhóm thức ăn giàu năng lượng (ngô, lúa mỳ) chiếm ưu thế với 14,32 triệu tấn, trị giá 3,6 tỷ USD. Nhóm thức ăn giàu đạm (chủ yếu là khô đậu tương) đạt 9,43 triệu tấn, trị giá 3,36 tỷ USD.

Ngành TACN Việt Nam vẫn đối mặt với thách thức lớn về tính tự chủ nguyên liệu. Ảnh: Xuân Bình.

Đáng chú ý, Việt Nam cũng chi hơn 1 tỷ USD để nhập khẩu 940,8 nghìn tấn thức ăn bổ sung – những vi chất quan trọng trong công thức phối trộn hiện đại. Tuy nhiên, một tín hiệu tích cực cho người chăn nuôi là xu hướng giảm giá của các loại nguyên liệu chủ chốt trong năm 2025. Giá nguyên liệu giảm, tạo điều kiện hạ giá thức ăn thúc đẩy chăn nuôi phát triển.

Bảng 3. So sánh giá nguyên liệu và thức ăn thành phẩm (2024 – 2025)

STT Loại nguyên liệu ĐVT Năm 2024 Năm 2025 So sánh 2025-2024
Lượng (đ) %
1 Ngô hạt đ/Kg 6.785 7.113 328 4,8
2 Khô dầu đậu tương đ/Kg 12.969 10.664 -2.305 -17,8
3 Cám gạo triết ly đ/Kg 5.701 5.835 134 2,3
4 DDGS đ/Kg 7.519 6.977 -542 -7,2
5 TAHH lợn thịt (vỗ béo từ 60kg trở lên) đ/Kg 12.230 11.720 -510 -4,2
6 TAHH gà thịt (lông màu) đ/Kg 12.064 12.041 -23 -0,2
7 TAHH gà thịt (lông trắng) đ/Kg 12.730 12.629 -101 -0,8

Nguồn : Cục Chăn nuôi và Thú y

Trong giai đoạn vừa qua, thị trường thức ăn chăn nuôi (TACN) trong nước đã ghi nhận những tín hiệu khởi sắc khi giá các mặt hàng nguyên liệu chủ chốt như khô dầu đậu tương và DDGS lần lượt giảm sâu (17,8% và 7,2%). Sự hạ nhiệt này đã tạo ra dư địa tài chính quan trọng, giúp các doanh nghiệp tiết giảm giá thành sản phẩm: thức ăn cho lợn thịt giảm 2,5%, thức ăn cho gà lông trắng giảm 3,5% so với cùng kỳ năm 2024. Đây là yếu tố then chốt giúp giảm áp lực chi phí đầu vào, tạo điều kiện thuận lợi cho người chăn nuôi duy trì tổng đàn và tái đầu tư bền vững.

Tuy nhiên, bước sang đầu năm 2026, bức tranh Ngành vẫn đang chịu tác động mạnh mẽ bởi các biến số địa chính trị phức tạp. Căng thẳng leo thang tại khu vực Trung Đông đã và đang gây gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu. Việc ách tắc vận tải biển tại các điểm nóng như eo biển Hormuz không chỉ đẩy chi phí logistics lên cao mà còn kéo theo sự gia tăng của giá năng lượng và phân bón, trực tiếp đe dọa đến tính ổn định của giá thành sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước.

Để hiện thực hóa mục tiêu sản xuất 24 – 25 triệu tấn thức ăn hỗn hợp vào năm 2030 theo Quyết định phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ, ngành sản xuất TACN cần triển khai đồng bộ nhóm giải pháp chiến lược mang tính căn cơ sau:

Thứ nhất, chủ động nguồn nguyên liệu nội địa: Cần quy hoạch và tận dụng tối đa diện tích đất nông nghiệp hiện có để thâm canh, tăng vụ (nhiều địa phương có phong trào “sớm lúa chiều khoai, sớm lúa chiều đỗ tương” nhằm tăng 3-4 vụ 1 năm trên một đơn vị diện tích) các loại cây trồng phục vụ chế biến thức ăn như lúa, ngô, khoai, sắn, đậu tương…. Khuyến khích mô hình trồng ngô sinh khối và cỏ chất lượng cao để cung cấp nguồn thức ăn xanh cho đại gia súc.

Thứ hai, khai thác tiềm năng kinh tế biển: Với đường bờ biển dài hơn 3.000 km, Việt Nam cần đẩy mạnh sản xuất rong biển, khai thác thủy hải sản bền vững và đẩy mạnh quy mô nuôi cá lồng bè, nâng cấp công nghệ chế biến bột cá chất lượng cao, giảm sự phụ thuộc vào bột cá nhập khẩu.

Thứ ba, kinh tế tuần hoàn từ phụ phẩm nông nghiệp: Đây là nguồn tài nguyên vô cùng lớn nhưng vẫn chưa được khai thác triệt để. Các loại phụ phẩm như cám gạo, bã sắn, bã bia, bã rượu, bã dứa, bã mía và đặc biệt là rơm rạ sau thu hoạch (vốn thường bị đốt bỏ gây lãng phí và ô nhiễm môi trường) cần được thu gom, chế biến làm thức ăn gia súc. Cùng với đó, có thể tận dụng phân trâu bò, phân lợn nái để nuôi trùn quế, sau đó thủy phân thành dịch trùn quế; Đối với nhau thai lợn hoặc lợn chết do bệnh thông thường, cần được xử lý nhiệt kỹ lưỡng để làm thức ăn nuôi cá; nguồn dịch trùn quế và cá này sau đó được chế biến thành thức ăn cao đạm phục vụ ngược lại cho ngành chăn nuôi.

Thứ tư, ứng dụng công nghệ sinh học: Đẩy mạnh nghiên cứu các chế phẩm enzym, chế phẩm vi sinh nhằm nâng cao tỷ lệ hấp thụ dinh dưỡng, cho phép thay thế một phần nguyên liệu truyền thống bằng các nguồn nguyên liệu thay thế tại chỗ mà vẫn đảm bảo năng suất vật nuôi.

Việc tăng cường nội lực hóa nguồn nguyên liệu không chỉ mang ý nghĩa kinh tế thuần túy là giảm áp lực nhập khẩu nguyên liệu, hạ giá thành sản xuất thức ăn chăn nuôi, mà còn là con đường độc đạo để ngành Chăn nuôi Việt Nam xác lập vị thế tự chủ, vững vàng vượt qua các biến động quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu.

Nguyễn Văn Tuế

Thời tiết

Đang tải...

Tỷ giá ngoại tệ

MuaBán
USD26,069.0026,339.00
EUR29,658.0631,221.64
JPY160.76170.97
GBP34,388.7935,848.59
AUD18,143.8718,914.08
CAD18,659.6119,451.71
Nguồn: Vietcombank

Bài viết liên quan