Kỳ 2: Vòng đời ruồi lính đen và kỹ thuật nuôi ấu trùng
Ruồi lính đen phát triển qua 4 giai đoạn chính: trứng, ấu trùng (nhiều giai đoạn), nhộng và ruồi trưởng thành. Mỗi giai đoạn phát triển cần môi trường khác nhau: thức ăn, ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm… Ấu trùng là giai đoạn dài nhất và có giá trị dinh dưỡng tốt nhất nên người ta phát triển các kỹ thuật nuôi ấu trùng để làm thức ăn chăn nuôi.

Vòng đời ruồi lính đen
Ruồi lính đen phát triển qua các giai đoạn: Trứng => Ấu trùng => Nhộng => Ruồi trưởng thành (Hình 1). Ở mỗi giai đoạn của vòng đời, nhu cầu nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng và thức ăn khác nhau. Thời gian để kết thúc một vòng đời dao động lớn, phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ và độ ẩm môi trường, thức ăn cho giai đoạn ấu trùng (Bảng 1).

Giai đoạn trứng:
Sau khi giao phối, ruồi cái đẻ trứng ở những nơi khô ráo gần nguồn thức ăn hữu cơ đang phân hủy. Mỗi con cái có thể đẻ từ 400–800 trứng (có thể đến 1.200 trứng).
Trứng có các đặc điểm: Màu trắng ngà; Kích thước nhỏ; Thời gian ấp: 3–4 ngày.
Điều kiện thích hợp: Nhiệt độ: 27–32°C; Độ ẩm: 60–70%.
Trứng nở thành ấu trùng non và bắt đầu tiêu thụ thức ăn hữu cơ.
Giai đoạn ấu trùng:
Đây là giai đoạn quan trọng nhất về mặt kinh tế và dinh dưỡng. Ấu trùng có khả năng: Tiêu thụ mạnh các loại phụ phẩm hữu cơ; Chuyển hóa nhanh thành sinh khối giàu protein; Giảm khối lượng chất thải đáng kể.
Thức ăn phù hợp: Cám gà; Cám gạo; Bã bia; Bã đậu phụ; Rau củ thải; Phân gia súc, gia cầm; Phế phẩm thủy sản…
Đặc điểm sinh trưởng: Thời gian phát triển: 12–18 ngày; Kích thước tối đa: 2–3 cm;
Khi đạt kích thước tối đa, ấu trùng chuyển sang giai đoạn tiền nhộng.
Giai đoạn nhộng:
Ở giai đoạn này, ấu trùng ngừng ăn; Màu cơ thể chuyển sẫm; Tìm nơi khô ráo để hóa nhộng.
Thời gian nhộng kéo dài khoảng 7–10 ngày trước khi vũ hóa thành ruồi trưởng thành.
Bảng 1. Các yêu cầu trong vòng đời ruồi lính đen
| Giai đoạn | Số ngày | Nhiệt độ (oC) | Ẩm độ (%) | Ánh sáng | Thức ăn |
| Trứng | 4 | <26 | <60 | – | Không cần |
| Ấu trùng nhỏ | 0-4 | 26-29 | 65-75 | Sợ ánh sáng | Ăn ít |
| Ấu trùng lớn | 4-14 | 26-35 | 65-75 | Sợ ánh sáng | Ăn rất nhiều |
| Tiền nhộng & nhộng | 10-14 | 25-30 | Thấp | Sợ ánh sáng | Giảm ăn & không ăn |
| Trưởng thành | 5-8 | 27-30 | 30-90 | Ưa ánh sánh
Quá trình giao phối diễn ra ở mật độ 60-200 μmol/m2/s (tối ưu 110 μmol/m2/s) và bước sóng 450nm-700nm. |
Không ăn |
Giai đoạn trưởng thành:
Ruồi trưởng thành sống khoảng 5–8 ngày. Chúng chủ yếu: Giao phối; Đẻ trứng; Duy trì vòng đời.
Ruồi trưởng thành hầu như không ăn mà chỉ uống nước.
Nuôi ấu trùng ruồi lính đen
Chuồng trại:
Điều kiện thích hợp: Thông thoáng; Có mái che; Tránh mưa trực tiếp; Nhiệt độ: 27–32°C; Độ ẩm: 60–70%.
Có thể nuôi bằng: Khay nhựa; Thùng composite; Bể xi măng; Hệ thống nuôi bán công nghiệp…
Thức ăn:
Thức ăn cần: Có độ ẩm vừa phải; Không chứa hóa chất độc hại; Không quá mặn hoặc quá chua.
Một số công thức phổ biến: Bã đậu phụ + cám gạo; Bã đậu phụ + Bã sắn; Bã bia + Bã sắn; Rau củ thải + men vi sinh; Phân gà đã xử lý; Phụ phẩm thủy sản nghiền nhỏ.
Độ dày của chất nền 5-10 cm, lượng cho ăn hàng ngày khoảng 40 mg/ấu trùng.
Chăm sóc và quản lý:
Không để thức ăn quá khô hoặc quá ướt (nên tưới phun sương hàng ngày); Tránh ánh nắng trực tiếp; Theo dõi nhiệt độ khối thức ăn để kịp điều chỉnh (như làm mỏng khối ủ); Thu hoạch đúng thời điểm.
Sau khoảng 12–15 ngày có thể thu hoạch ấu trùng đạt chất lượng cao nhất. Thời gian thu hoạch phụ thuộc đối tượng sử dụng: nếu sử dụng ấu trùng làm thức ăn cá, tôm.. thì thu hoạch sớm hơn thức ăn gà, lợn. Thu hoạch càng muộn, hàm lượng chitin càng cao và protein càng thấp.
Thu hoạch và chế biến:
a). Thu hoạch để sử dụng ấu trùng tươi: gà, vịt, lợn, cá, chim cảnh…
Trước khi thu hoạch ngừng bổ sung thức ăn 6–12 giờ để giúp ấu trùng làm sạch ruột và giảm mùi và tạp chất. Thu hoạch tiến hành theo các cách sau: Thủ công, sử dụng nước và tự động.
Thủ công: Dùng xẻng nhỏ xúc hỗn hợp thức ăn và ấu trùng; Đổ lên rổ lưới; Lắc nhẹ để tách cặn thức ăn; Thu gom ấu trùng vào khay, bao bì.. sạch. Phù hợp với quy mô chăn nuôi nhỏ; phương pháp đơn giản, nhanh nhưng tốn công lao động.
Thu hoạch bằng nước: Cho hỗn hợp (cơ chất + ấu trùng) vào thùng nước, khuấy nhẹ, ấu trùng nổi hoặc lắng tùy giai đoạn; dùng vợt vớt ấu trùng, rửa lại bằng nước sạch. Phương pháp này phù hợp quy mô lớn; Thu nhanh, ít tạp chất nhưng không ngâm quá lâu và phải để ráo nước trước khi cho ăn hoặc sấy.
Thu hoạch tự động (tự bò): Khi chuẩn bị hóa nhộng, ấu trùng (tiền nhộng) có tập tính bò lên nơi khô ráo vì vậy, có thể dung máng nghiêng, ống dẫn hay khay để thu tự động. Phù hợp quy mô trang trại và giảm công lao động, tuy nhiên, tiền nhộng có hàm lượng chitin cao và chất béo thấp nên có thể không phù hợp với cá, tôm và gà con, lợn con…
b). Chế biến ấu trùng để sử dụng lâu dài (bột, ấu trùng khô..)
Các phương pháp thu hoạch giống với thu hoạch sử dụng ấu trùng tươi. Khác biệt: làm sau sau thu hoạch và làm khô hay nghiền thành bột ấu trùng.
Làm sạch sau thu hoạch: Rửa bằng nước sạch (qua vòi nước chảy là tốt nhất) để loại bỏ thức ăn và chất chứa trong khoang ruột ấu trùng, làm chết ấu trùng bằng nước sôi 30 phút, để ráo nước 30-60 phút. Có thể bổ sung các men vi sinh hay thảo dược để khử mùi và tăng an toàn sinh học.
Làm khô và nghiền: Sấy ấu trùng ở nhiệt độ <60oC hoặc phơi nắng đến khi khô (độ ẩm <15%). Chú ý: ấu trùng chứa nhiều chất béo nên quá trình sấy kéo dài. Ấu trùng khô có thể nghiền thành bột để phối trộn với các nguyên liệu thức ăn khác.
Ấu trùng ruồi lính đen có hàm lượng chất béo cao nên khó bảo quản lâu và làm mất cân đối hàm lượng chất béo và axit béo trong khẩu phần của vật nuôi, vì vậy, có thể tách béo để thành bột ấu trùng ít béo, dễ sử dụng và bảo quản./.
GS. TS. Lê Đức Ngoan, trường Đại học Nông Lâm-Đại học Huế
(Kỳ sau: Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của ấu trùng ruồi lính đen)



