Kỳ 4: Xử lý phụ phẩm làm thức ăn nuôi cá
Trong chăn nuôi lợn, tỷ lệ chết trong giai đoạn theo mẹ là 4%, giai đoạn cai sữa là 1%, giai đoạn nuôi thịt là 4%, lợn nái chết do các yếu tố thông thường như lợn còi cọc, stress, hậu sản… trong 1 năm là 1,3%, cùng nhau thai lợn được tận dụng xử lý theo hình thức luộc chín cho cá ăn. Đối với lợn chết do các bệnh truyền nhiễm, thường được xử lý theo hình thức chôn lấp, cho vào lò đốt xác theo luật quy định.

Ao nuôi cá.
- Trong chăn nuôi lợn nái: Phụ phẩm của chăn nuôi gồm có nhau thai lợn, lợn con cai sữa chết, lợn nái chết.
- Trong chăn nuôi lợn thịt: Phụ phẩm là lợn thịt chết trong quá trình chăn nuôi.
Cách tính số phụ phẩm
- Trọng lượng nhau thai lợn: Số lợn nái sinh sản × số lứa/năm × trọng lượng nhau thai 1 ổ.
- Trọng lượng lợn cai sữa chết: Số lợn cai sữa nuôi × trọng lượng bình quân 1 con chết × tỷ lệ chết.
- Trọng lượng lợn nái chết: Số nái sinh sản × tỷ lệ lợn nái chết × trọng lượng bình quân 1 nái chết.
- Trọng lượng lợn thịt chết: Số lợn thịt có mặt thường xuyên × số lứa nuôi/năm × tỷ lệ chết × trọng lượng 1 con chết.
Ví dụ: Số lượng phụ phẩm của Công ty TNHH DABACO Phú Thọ trong 1 năm:
- Trọng lượng nhau thai lợn: 6.000 nái × 2,35 lứa × 6,5kg = 91.650kg
- Trọng lượng lợn cai sữa chết: 6.000 nái × 30 con × 1% × 7kg = 12.600kg
- Trọng lượng lợn nái chết: 6.000 nái × 1,33% × 220 kg = 17.550kg
- Trọng lượng lợn thịt chết: 17.000 con × 2,28 lứa × 4% × 20,7kg = 32.093kg
Tổng lượng phụ phẩm:
91.650 + 12.600 + 17.550 + 32.093 = 153.899 kg (421,6 kg/ngày).
Ghi chú: Trọng lượng nhau thai 1 ổ, trọng lượng lợn cai sữa chết, trọng
lượng lợn thịt chết bình quân 1 con, trọng lượng lợn nái chết bình quân 1
con là số lượng đã qua khảo sát thực tiễn.
Cách xử lý phụ phẩm
- Đối với lợn chết: Lợn chết được thu gom hàng ngày, cho mỗi con lợn vào 1 túi nylon.
- Đối với nhau thai lợn: Được thu gom hàng ngày vào túi nylon.
Tất cả cho lên xe vận chuyển về vị trí nhà tập kết, tại vị trí tập kết được lắp đặt các vạc đun bằng khí biogas. Lợn chết được cho vào vạc riêng (con to được cắt nhỏ thành mảnh) đun sôi trong thời gian một giờ để đảm bảo chín nhừ, vô trùng. Túi nylon cũng cho vào lò đốt. Nhau thai được cho vào vạc riêng và đun sôi trong 1h để đảm bảo chín nhừ, vô trùng.
Phụ phẩm đã được luộc để nguội rồi vận chuyển cho cá ăn. Mỗi ao nuôi cá cần làm 1-2 cầu cách bờ 4-5m để cho cá ăn. Để tận dụng phụ phẩm chăn nuôi lợn để nuôi cá cũng cần thực hiện áp dụng kỹ thuật chăn nuôi cá khoa học.

Cá ăn phụ phẩm trước khi thu hoạch.
Kỹ thuật chăn nuôi cá khoa học
Điều kiện ao nuôi
- Ao nuôi phải có diện tích 500-2.500 m2
- Ao phải dễ cấp nước, thoát nước, không bị ô nhiễm, mương cấp nước riêng, mương thoát nước riêng.
- Độ pH: 6-7.
- Bờ ao cao hơn mức nước cao nhất 0,5 m.
- Ao phải sạch sẽ, thoáng không có cây cối, côn trùng xung quanh.
Chuẩn bị ao nuôi
- Tát cạn, dọn đáy ao, san cho đáy ao bằng phẳng.
- Dọn bùn ao để độ dày bùn 20-30 cm.
- Dùng vôi 10-15kg/1.000 m2, té đều khắp ao, bờ ao.
- Phơi nắng 7-10 ngày cho bùn, bã hữu cơ phân hủy.
- Lấy nước vào ao: Lấy qua hệ thống lọc nước để tránh cá tạp.
- Tháo khoảng 1m nước, dùng 100-150kg phân chuồng ủ với vi sinh té khắp mặt ao để tạo màu ao, tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển làm thức ăn cho cá giai
đoạn đầu.
Đối tượng nuôi
- Để tận dụng phụ phẩm chăn nuôi lợn cho cá thì ta nên dùng các đối tượng: Cá lăng, cá rô phi đơn tính, cá chim trắng, cá trê lai, cá trê ta…
Kỹ thuật nuôi
Thả giống:
- Chọn giống khỏe mạnh, không dị tật, màu sắc sáng.
Kích thước cá:
- Cá lăng : 0,5-1kg/con
- Cá rô phi, chim trắng: 10-15cm/con
- Trê lai: 0,3-0,5kg/con
- Trê ta: 40-50 con/kg
Mật độ thả và thời vụ:
- Nên nuôi thâm canh: thả 2-3 con/m2
, với cá trê lai và trê ta mật độ thả có thể dầy hơn.
- Thời vụ thả: cuối tháng 3, đầu tháng 4 khi thời tiết đã ấm. Thu hoạch vào tháng 10-11 (thu hoạch tỉa)
- Nếu chuyển cá từ năm trước sang thì tháng 11, 12 giữ cá qua đông, thu hoạch
tháng 9 năm sau.
Chăm sóc, quản lý và cho ăn:
- Cá nuôi từ tháng 3-4 chăm sóc cho ăn: 10 ngày bổ sung 50 kg phân chuồng đã ủ mục bằng vi sinh (EM)/100m2 để tạo màu cho ao và tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển để cá ăn.
- Cho ăn phụ phẩm: Phụ phẩm (nhau thai, lợn chết đã luộc chín nhừ) để nguội rồi vận chuyển cho cá ăn, lượng phụ phẩm cho ăn với tỷ lệ 5-7% trọng lượng cá.
- Mỗi ao cần lắp đặt quạt nước để cấp oxy cho cá
- Định kỳ phòng bệnh cho cá: tháng 1 lần bằng 4-5 kg vôi/100m2 ao và bằng thuốc
Amoxicilin, Beta-Glucan…(theo hướng dẫn trên bao bì)
Thu hoạch
- Sau 5-6 tháng có thể đánh tỉa số cá lớn để bán hoặc ăn (với cá lăng, rô phi, chim trắng), với cá trê lai để chế biến cho lợn và thả bù cá giống để tăng năng suất nuôi. Phải ghi lại số lượng cá đã thu và thả lại sau mỗi lần đánh tỉa (ghi cả số con, số kg). Với cá lăng trọng lượng khi thu hoạch nên từ 4-5kg thì có hiệu quả cao.
- Cuối năm thu hoạch toàn bộ cá (có thể chọn con nhỏ giữ lại làm giống cho vụ sau). Sau khi thu hoạch toàn bộ ghi lại sản lượng cá thu được (bao gồm cả số đánh tỉa và cá thu cuối năm) nhằm sơ bộ hạch toán trong quá trình nuôi để có cơ sở đầu tư cho vụ sau.
- Tùy đối tượng cá nuôi mà có hướng sử dụng khi thu hoạch: đối với cá lăng do có giá bán cao (60.000đ-80.000đ), cá chim trắng (35.000đ-45.000đ), cá rô phi (40.000đ-50.000đ) tùy mùa vụ thì có thể bán thu tiền hoặc cấp thức ăn cho nhà bếp. Đối với cá trê lai do giá bán thấp thì có thể khai thác bán cho các hồ câu, hoặc khai thác dần hàng ngày rồi chế biến cho lợn thịt ăn.
Chế biến cá cho lợn ăn
Cá được vớt cho vào vạc đun cùng với nước cho chín nhừ, vớt cá cho vào thiết bị xay cá (cả nước và cá) xay đến khi nhuyễn thành nước, chở đến đầu chuồng bơm vào thùng chứa trong chuồng (không để người trong chuồng và ngoài chuồng tiếp xúc với nhau nhằm hạn chế lây lan dịch), người trong chuồng múc dịch cá đã xay đổ vào cho lợn ăn, cho ăn cùng cám nước hoặc đổ dịch cá vào máng cho lợn húp, lượng cá tươi cho ăn bằng 2-3% thức ăn tinh.

Dụng cụ chế biến cá trê lai cho lợn ăn.
Một số lưu ý:
Chăn nuôi cá nước ngọt trong ao nói chung thường hay xuất hiện cá bị bệnh đặc biệt vào giai đoạn nắng nóng và giao mùa nắng mưa, thường xuất hiện vào thời điểm từ tháng 4 – tháng 6 hằng năm. Một số rủi ro thường gặp: Rủi ro do khô hạn.
- Rủi ro do chất bẩn, chất hóa học chảy vào gây ô nhiễm ao và nước ao.
- Rủi ro do bệnh cá.
Để giảm thiểu rủi ro liên quan đến giai đoạn chuyển mùa cần thực hiện 1 số biện pháp:
- Quạt nước, sục khí cho ao.
- Cấp nước sạch đủ cho ao.
- Kiểm soát lượng thức ăn, không để dư thừa.
- Xem xét, lập kế hoạch sản lượng hợp lý, nên cắt giảm 1/4 sản lượng trong khoảng thời gian khô hạn chuyển mùa.
- Thả cá giống lớn để giảm tỷ lệ chết.
- Làm tốt công tác tiêu độc khử trùng ao nuôi.
- Làm tốt công tác cho ăn.
- Làm tốt công tác chăm sóc, quản lý.
Để mảng sản xuất chăn nuôi cá tận dụng phụ phẩm trong trang trại chăn nuôi lợn có hiệu quả người lãnh đạo trại cần quan tâm một số vấn đề sau:
- Nếu diện tích ao hồ nuôi thủy sản lớn, có thể nuôi được nhiều cá thì cần bố trí người có kinh nghiệm để nuôi cá, có thể tuyển cán bộ trung cấp hoặc kỹ sư thủy sản phụ trách mảng sản xuất này.
- Nguồn cá giống: Với nguyên tắc là thả cá giống lớn thì ngoài việc mua giống bên ngoài, có thể nuôi tự túc con giống từ nguồn cá nhỏ trong ao của trại thành cá giống lớn để tiết kiệm chi phí. Việc ương cá nhỏ thành cá giống lớn có thể thực hiện ở lồng trong ao hoặc ương ở ao nhỏ trong trại.
- Nguồn thức ăn: Ngoài việc tận dụng triệt để nguồn phụ phẩm chăn nuôi lợn
để làm thức ăn cho cá thì cần chủ động nguồn thức ăn viên công nghiệp cho cá. Có thể tự chế biến cám viên mỗi ngày bằng những dòng máy sản xuất cám viên công suất nhỏ trong nước tự chế dựa trên nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương (cám, ngô, sắn, đỗ, khô đậu tương), kết hợp thêm 20% hỗn hợp giun và phân giun tự sản xuất trong trại làm thức ăn cho cá.
- Thức ăn để ương cá con thì cần mua thức ăn công nghiệp dạng viên nhỏ phù hợp với từng cỡ cá, có thể tận dụng 1 phần nhau thai đã luộc chín, khuấy nhỏ té cho cá ăn.
- Phòng trừ dịch bệnh: Triển khai các biện pháp để phòng, trừ bệnh cho đàn cá, tránh để đàn cá chết gây ảnh hưởng đến hiệu quả nuôi.
Công thức phối trộn thức ăn cho cá
TT Nguyên liệu ĐVT (%) Mẻ trộn 200kg
1 Bột ngô 30 60
2 Cám gạo 20 40
3 Bột sắn 20 40
4 Khô đỗ tương 19 38
5 Hỗn hợp phân và trùn quế 20 40
6 Premix khoáng vitamin 1 2
100 200
Ghi chú: Giá trị protein trong thức ăn hỗn hợp cho cá thịt dao động từ 25-35%. Công thức trên chỉ để bổ sung thêm thức ăn tinh bột cho cá và tận dụng hỗn hợp phân và trùn quế làm thức ăn viên dạng nổi cho cá, do cá đã được ăn phụ phẩm gồm lợn và nhau thai luộc có hàm lượng protein tương đối cao.
Sản xuất tuần hoàn trong chăn nuôi lợn đang trở thành một xu hướng tất yếu và là giải pháp quan trọng để phát triển ngành chăn nuôi một cách bền vững tại Việt Nam. Đặc biệt, việc áp dụng mô hình sản xuất này tại các tập đoàn lớn như DABACO không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần bảo vệ môi trường và giảm thiểu tác động tiêu cực đến biến đổi khí hậu.
Sản xuất tuần hoàn trong chăn nuôi được định nghĩa là hoạt động sản xuất không chất thải, không phế phẩm. Hoạt động này bao gồm việc ứng dụng các kỹ thuật truyền thống kết hợp với tiến bộ khoa học để xử lý các phụ phẩm và chất thải trong quá trình sản xuất, biến chúng thành các giá trị hữu ích. Điều này không chỉ giúp giảm thiểu lượng chất thải ra môi trường mà còn tạo ra nguồn tài nguyên tái tạo, giảm sự phụ thuộc vào các nguồn cung cấp bên ngoài.
Một trong những lợi ích kinh tế quan trọng nhất của sản xuất tuần hoàn là giảm chi phí sản xuất. Thay vì phải xử lý chất thải như một khoản chi phí phát sinh, DABACO có thể chuyển đổi chúng thành các sản phẩm có giá trị như phân bón hữu cơ, biogas, hoặc thức ăn chăn nuôi. Phân bón hữu cơ có thể được sử dụng để trồng trọt, biogas có thể được sử dụng để tạo ra điện năng, thức ăn chăn nuôi có thể giảm chi phí mua thức ăn từ bên ngoài. Điều này giúp DABACO nâng cao hiệu quả sản xuất và tăng lợi nhuận.
Ngoài ra, sản xuất tuần hoàn còn giúp DABACO giảm thiểu rủi ro liên quan đến biến động giá cả của các nguồn cung cấp bên ngoài. Ví dụ, nếu giá phân bón hóa học tăng cao, DABACO vẫn có thể sử dụng phân bón hữu cơ tự sản xuất để duy trì hoạt động sản xuất. Điều này tạo ra sự ổn định và khả năng chống chịu tốt hơn cho doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường biến động.
Về mặt môi trường, sản xuất tuần hoàn giúp DABACO giảm thiểu phát thải khí nhà kính và ô nhiễm môi trường. Chất thải chăn nuôi thường chứa các chất gây ô nhiễm như amoniac, nitrat và các vi khuẩn gây bệnh. Nếu không được xử lý đúng cách, chúng có thể gây ô nhiễm nguồn nước, đất và không khí. Bằng cách áp dụng các kỹ thuật xử lý chất thải tiên tiến như ủ phân compost, xây dựng hầm biogas, DABACO có thể giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Hơn nữa, việc áp dụng sản xuất tuần hoàn còn giúp DABACO nâng cao uy tín và hình ảnh thương hiệu. Người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến các sản phẩm được sản xuất một cách bền vững và thân thiện với môi trường. Bằng cách chứng minh cam kết của mình đối với sản xuất tuần hoàn, DABACO có thể thu hút được nhiều khách hàng hơn và tạo ra lợi thế cạnh tranh trên thị trường.
Tóm lại, ứng dụng sản xuất tuần hoàn trong chăn nuôi lợn tại DABACO Việt Nam mang lại nhiều lợi ích to lớn về kinh tế và môi trường. Đây không chỉ là một giải pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm chi phí mà còn là một cách để bảo vệ môi trường và xây dựng một ngành chăn nuôi bền vững. Trong tương lai, DABACO sẽ tiếp tục đầu tư vào nghiên cứu và phát triển các công nghệ sản xuất tuần hoàn tiên tiến, đồng thời phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức nghiên cứu để nhân rộng mô hình này trên quy mô lớn hơn, góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia.
T.S Nguyễn Văn Tuế
Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn DABACO Việt Nam,
Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam



