Phát biểu tại Diễn đàn, ông Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam, đánh giá cao việc Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức diễn đàn đối thoại, coi đây là cơ hội để các hiệp hội và doanh nghiệp phản ánh trực tiếp những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn sản xuất, kinh doanh.
Theo ông, thời gian qua Bộ đã có những cải cách lớn về thủ tục hành chính, trong đó có phân cấp cho địa phương và rà soát nhiều quy định liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sản xuất.

Ông Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam, đánh giá cao việc Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức diễn đàn đối thoại.
Tuy nhiên, ông Sơn cho rằng quá trình thực thi ở địa phương hiện vẫn còn một số ách tắc. Vấn đề đầu tiên là thiếu thống nhất trong cách hiểu và tiêu chí xử lý hồ sơ, nhất là với nguyên liệu thức ăn chăn nuôi. Cùng một sản phẩm, có địa phương giải quyết nhanh, nhưng khi chuyển sang địa phương khác lại bị yêu cầu bổ sung thêm giấy tờ, kéo dài thời gian. Theo ông Sơn, nguyên nhân một phần do năng lực chuyên môn và mức độ ứng dụng công nghệ thông tin giữa các địa phương chưa đồng đều.
Vướng mắc thứ hai là tình trạng quá tải, thiếu nhân lực chuyên môn ở cấp địa phương. Nhiều cán bộ chịu áp lực trách nhiệm pháp lý nên có tâm lý xử lý chậm, làm chặt, không dám giải quyết nhanh để thông quan hàng hóa. Điều này khiến doanh nghiệp trong lĩnh vực chăn nuôi, thú y, thức ăn chăn nuôi bỏ lỡ cơ hội xuất khẩu, nhập khẩu hoặc kinh doanh.
Bên cạnh đó, hạ tầng và cơ sở vật chất ở một số địa phương còn hạn chế, khiến việc tiếp nhận, xử lý hồ sơ mất nhiều thời gian. Với các doanh nghiệp lớn có nhiều nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi ở nhiều tỉnh, việc phải làm việc với nhiều đầu mối địa phương khác nhau cũng gây lúng túng và thiếu thống nhất.
Ở cấp Trung ương, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam ghi nhận một số sửa đổi trong quản lý giống vật nuôi là phù hợp, đặc biệt là hướng miễn, giảm khảo nghiệm đối với những giống đã có chứng nhận, được nhập khẩu và lưu hành thương mại theo thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, với lĩnh vực thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y, ông cho rằng vẫn còn nhiều điểm cần tiếp tục rà soát.
Hiệp hội đề nghị bỏ kiểm tra chất lượng nguyên liệu đầu vào đối với doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất thức ăn chăn nuôi, bởi doanh nghiệp sẽ chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm trước khi xuất xưởng và chịu sự giám sát thường xuyên của cơ quan quản lý.
Ông Sơn cũng phản ánh thời gian xử lý hồ sơ đăng ký trực tuyến còn kéo dài. Có hồ sơ liên quan đến sản phẩm thuốc thú y mất 6 tháng đến một năm, thậm chí có trường hợp kéo dài nhiều năm. Ngoài ra, quy định về nhãn thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y cũng cần được xem xét lại, bởi nhiều giấy phép chỉ thể hiện nội dung tóm tắt, trong khi yêu cầu nhãn phải ghi phù hợp với giấy phép khiến doanh nghiệp khó thực hiện đầy đủ trên bao bì.
Với thủ tục kiểm tra giảm, ông Sơn đề nghị cần triển khai qua cơ chế một cửa, thay vì vẫn phải nộp hồ sơ giấy. Hiệp hội cũng kiến nghị bỏ quy định về thời hạn sử dụng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi theo hướng để doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm trong quản lý chất lượng. Về danh mục nguyên liệu thức ăn được phép sử dụng, ông đề xuất thay đổi cách tiếp cận, chỉ ban hành danh mục cấm sử dụng, thay vì quản lý theo danh mục được phép.
Ngoài ra, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam cho rằng còn tình trạng trùng lặp, chồng chéo trong đánh giá điều kiện sản xuất thức ăn bổ sung và sản phẩm xử lý môi trường. Với khảo nghiệm phụ gia, Hiệp hội đề nghị bỏ hoặc đơn giản hóa thủ tục đối với những phụ gia như enzyme, probiotic đã được EU hoặc các thị trường có tiêu chuẩn cao công nhận và lưu hành thương mại.
Trong lĩnh vực thuốc thú y và vaccine, ông Sơn đề nghị xem xét bỏ thủ tục gia hạn giấy chứng nhận lưu hành, chuyển sang kiểm soát theo điều kiện lưu hành và chất lượng sản phẩm. Hiệp hội cũng kiến nghị bỏ yêu cầu theo dõi kế hoạch đóng gói trong hồ sơ đăng ký để giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp.
Với các sản phẩm thảo dược thay thế kháng sinh, ông Sơn cho rằng cần có cơ chế công nhận kết quả phân tích từ nước xuất khẩu hoặc cho phép gửi mẫu đến các phòng thử nghiệm đủ năng lực, do nhiều chỉ tiêu hiện các phòng thử nghiệm trong nước chưa phân tích được.
P.V


