Sáng 25/3, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến chủ trì cuộc họp về xây dựng ba chương trình khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong lĩnh vực thủy sản, theo Quyết định 287 của Bộ NN-MT ngày 23/1/2026.

Ứng dụng công nghệ cao là hướng đi bền vững cho ngành thủy sản. Ảnh: Tepbac.
Cục Thủy sản và Kiểm ngư phối hợp với Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam xây dựng thuyết minh ba chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo gồm: phát triển giống tôm; phát triển nuôi biển (cá, nhuyễn thể, rong, tảo); và phát triển nuôi thủy sản nội địa. Đây được xác định là các trụ cột nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh của ngành trong bối cảnh thị trường quốc tế biến động và áp lực cạnh tranh gia tăng.
Tại cuộc họp, các đơn vị đã rà soát danh mục nhiệm vụ của từng chương trình, tập trung làm rõ tính cấp thiết, tránh dàn trải, đồng thời xác định những điểm nghẽn cần ưu tiên xử lý. Nhiều ý kiến cho rằng việc xây dựng chương trình phải gắn chặt với thực tiễn sản xuất và xu hướng thị trường, thay vì tiếp cận theo hướng bao quát, thiếu trọng tâm.
Chỉ đạo tại cuộc họp, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến yêu cầu xác định rõ quan điểm và mục tiêu cụ thể cho từng chương trình, làm cơ sở xây dựng giải pháp và lộ trình triển khai. Thứ trưởng nhấn mạnh vai trò trung tâm của doanh nghiệp, coi đây là chủ thể trực tiếp ứng dụng công nghệ và tạo ra giá trị gia tăng. Vì vậy, cơ chế chính sách cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận công nghệ, tham gia nghiên cứu và sở hữu kết quả.
Một trong những nội dung được nhấn mạnh là phải lựa chọn đúng đối tượng ưu tiên. Thay vì phát triển dàn trải, các chương trình cần tập trung vào các đối tượng chủ lực như tôm, cá và một số loài có tiềm năng thị trường rõ ràng. Đồng thời, việc nâng cao năng lực cạnh tranh cần được tiếp cận từ nhiều khâu, đặc biệt là giảm giá thành sản xuất, cải thiện chất lượng sản phẩm và đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu.
Thứ trưởng cũng lưu ý cần tiếp cận các chương trình theo hướng tổng thể, có sự kết nối giữa nuôi trồng, khai thác và chế biến, thay vì tách rời từng lĩnh vực. Việc xác định trọng tâm, trọng điểm là yêu cầu xuyên suốt nhằm tránh phân tán nguồn lực và nâng cao hiệu quả đầu tư.
Ông Nguyễn Quang Hùng, Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư, cho rằng việc xây dựng nhiệm vụ khoa học công nghệ cần dựa trên đánh giá toàn diện cả trong nước và quốc tế, đảm bảo tính cập nhật và khả năng hội nhập. Trong đó, giống được xem là khâu then chốt quyết định tính bền vững của nuôi trồng thủy sản.
Theo ông Hùng, với các đối tượng nuôi mới, cần xác định rõ tiềm năng và thị trường đầu ra. Với các đối tượng truyền thống, yêu cầu đặt ra là phải có đột phá về công nghệ, năng suất hoặc giá trị gia tăng, tránh lặp lại cách làm cũ. Đặc biệt, trong lĩnh vực nuôi biển, việc lựa chọn đối tượng phải gắn với nhu cầu thị trường và định hướng thương mại rõ ràng.
Ở góc độ quản lý khoa học, ông Nguyễn Hữu Ninh, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, cho biết cơ chế hiện nay đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, trong đó doanh nghiệp có thể sở hữu kết quả nếu tham gia chủ trì. Đây được xem là cơ hội để thúc đẩy liên kết giữa khu vực công và tư trong đổi mới sáng tạo.
Liên quan đến chương trình phát triển giống tôm, ông Ninh cho rằng một số đối tượng như tôm càng xanh có thể chủ động hoàn toàn trong nước, trong khi với tôm hùm cần tiếp tục nghiên cứu trước khi tính đến thương mại hóa quy mô lớn. Việc xác định rõ từng đối tượng sẽ giúp phân bổ nguồn lực hợp lý.
Trong khi đó, chương trình nuôi thủy sản nội địa cần được lồng ghép với các đề án đã được phê duyệt, như phát triển nuôi trồng trên hồ chứa, vùng nước lớn. Việc tích hợp này nhằm tránh chồng chéo, đồng thời tận dụng nguồn lực và dữ liệu sẵn có.
Hiện nay, ngành thủy sản đang đối mặt với tình trạng sản xuất giống và tổ chức sản xuất chưa tương xứng với tiềm năng. Dù có lợi thế về điều kiện tự nhiên, Việt Nam vẫn nhập khẩu nhiều loại giống từ nước ngoài. Điều này đặt ra yêu cầu phải tái cấu trúc hệ thống sản xuất giống, nâng cao năng lực nghiên cứu và thương mại hóa trong nước.
Ngoài ra, bài toán giảm giá thành sản xuất cũng được nhấn mạnh, đặc biệt với các sản phẩm xuất khẩu như cá rô phi. Hiện giá thành của Việt Nam còn cao so với các đối thủ, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh. Các giải pháp được đề xuất gồm cải thiện dinh dưỡng, nâng cao chất lượng giống và tối ưu quy trình nuôi nhằm giảm hệ số chuyển đổi thức ăn.
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cho biết, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tổ chức thêm các cuộc họp, hội nghị, lấy ý kiến doanh nghiệp và các bên liên quan, đồng thời phân công rõ trách nhiệm trong quá trình triển khai.
Nguồn Nông nghiệp Môi trường



