Với hệ thống sản xuất bài bản, chất lượng ổn định và mục tiêu bền vững, đậu nành Hoa Kỳ khẳng định vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng protein toàn cầu.
Chất lượng đồng đều nhờ sản xuất tại chỗ
Tại hội thảo “Tìm hiểu chất lượng đậu nành Hoa Kỳ” tổ chức ngày 20/3, ông Glen Groth – Chủ tịch tổ chức Tiếp thị Đậu nành Bắc Hoa Kỳ (NSM) nhấn mạnh, đậu nành Hoa Kỳ có lợi thế nổi bật về thành phần dinh dưỡng. Dù hàm lượng đạm thô có xu hướng thấp hơn do yếu tố giống và khí hậu, nhưng các axit amin thiết yếu lại ở mức cao hơn. Theo ông, điểm khác biệt này giúp nâng cao hiệu quả sử dụng trong thức ăn chăn nuôi, thay vì chỉ nhìn vào chỉ số protein tổng thể.

Ông Glen Groth – Chủ tịch tổ chức Tiếp thị Đậu nành Bắc Hoa Kỳ (NSM).
Việt Nam đã ký Biên bản ghi nhớ cam kết nhập khẩu hơn 1 triệu tấn ngô, lúa mì và bột đậu nành làm thức ăn chăn nuôi từ Hoa Kỳ.
Cập nhật từ đại diện NSM, chất lượng đậu nành Hoa Kỳ còn được duy trì xuyên suốt chuỗi cung ứng nhờ thu hoạch ở độ ẩm thấp (khoảng 10%) và bảo quản trong điều kiện lạnh trong quá trình vận chuyển dài ngày sang các thị trường Đông Nam Á. Khi đưa vào ép dầu, nguyên liệu đầu vào đạt chất lượng cao giúp khô đậu nành thành phẩm ổn định hơn.
“Dù lợi nhuận cho nông dân chưa cao, việc duy trì sản xuất là cần thiết để đảm bảo nguồn cung trong nước và tiếp tục mở rộng xuất khẩu sang các thị trường tại khu vực châu Á, trong đó có Việt Nam”, Chủ tịch NSM khẳng định.
Theo Tiến sĩ Seth Naeve, chuyên gia nông học của Đại học Minnesota, một trong những điểm mạnh của đậu nành Hoa Kỳ là hệ thống sản xuất tại chỗ, giúp duy trì chất lượng ổn định theo thời gian. Đậu nành được trồng trên phạm vi địa lý rộng vừa đảm bảo năng suất ổn định, vừa tạo ra sự đa dạng về thành phần.
Khác với mô hình tập trung như ở Argentina, các nhà máy sản xuất khô đậu tại Hoa Kỳ phân bổ đồng đều, nhằm phục vụ nhu cầu ép dầu từ các nguồn nguyên liệu đậu nành trong khu vực. Điều này giúp hạn chế biến động chất lượng và tăng tính đồng nhất của sản phẩm. Hay với Brazil, điều kiện sản xuất hoàn toàn khác biệt so với Hoa Kỳ. Nhiệt độ cao, độ ẩm lớn và mưa nhiều trong suốt mùa thu hoạch khiến nông dân Brazil phải sử dụng hệ thống sấy nhiệt, ảnh hưởng đến chất lượng hạt đậu nành sau thu hoạch.

T.S Seth Naeve, chuyên gia nông học của Đại học Minnesota cập nhật những tiến bộ của chất lượng đậu nành Hoa Kỳ qua các giai đoạn.
Ông cũng cho hay, các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi trên toàn cầu trong thời gian tới sẽ phải tiếp cận với nhiều loại khô đậu nành mới với đặc điểm và chất lượng khác nhau. Điều này đòi hỏi đội ngũ dinh dưỡng cần liên tục cập nhật thông tin, nâng cao năng lực khi đánh giá nguyên liệu đầu vào.
Dữ liệu khảo sát trong 40 năm qua cũng cho thấy sự cải thiện đáng kể về tính đồng nhất của đậu nành Hoa Kỳ. Nếu trước đây có sự chênh lệch lớn về hàm lượng protein giữa các vùng, thì hiện nay khoảng cách này đã thu hẹp đáng kể, nhờ tiến bộ về giống và kỹ thuật canh tác.
Trong mùa vụ 2025, những bang phía Bắc vốn có hàm lượng protein thấp như Bắc Dakota có thể đạt mức tương đương với các vùng “Vành đai” trung tâm như Iowa, Illinois, Indiana, Ohio. Sự khác biệt đã thu hẹp đáng kể nhờ việc cải tiến giống và kỹ thuật canh tác dù là đậu nành hạt hay khô đậu.
Theo ông Glen Groth, đậu nành có lợi thế về chi phí trồng trọt và thu hoạch so với ngô. Ngô có chi phí đầu vào lớn từ phân bón, yêu cầu làm đất đến vận chuyển.

Hội thảo “Tìm hiểu về chất lượng đậu nành Hoa Kỳ” tổ chức Tiếp thị Đậu nành Bắc Hoa Kỳ (NSM) tổ chức, chủ trì bởi đại diện từ Hội đồng Xuất khẩu Đậu nành Hoa Kỳ (USSEC), NSM, Đại học Minnesota, Công ty AGP, FeedGuys (Hoa Kỳ).
Tình trạng đứt gãy nguồn cung phân bón cho cây ngô đang khiến nông dân Hoa Kỳ gặp nhiều khó khăn, đặc biệt đúng vào thời điểm vào vụ gieo trồng. Trong thời gian tới, diện tích gieo trồng đậu nành được dự báo gia tăng, kéo theo sản lượng thu hoạch mùa vụ kế tiếp sẽ tăng.
“Tôi cũng đang chọn trồng thêm đậu tương ở trang trại của mình, và tôi nghĩ xu hướng này có thể sẽ diễn ra ở nhiều nơi trên khắp nước Mỹ”, chủ tịch Glen Groth cho biết và khuyến nghị các đơn vị sản xuất thức ăn chăn nuôi cần chủ động nguồn cung, đảm bảo an ninh dinh dưỡng cho vật nuôi trước biến động xung đột toàn cầu.
Lợi thế cạnh tranh từ nhãn hiệu ‘bền vững’
Không chỉ dừng ở chất lượng, yếu tố bền vững đang trở thành lợi thế cạnh tranh quan trọng của đậu nành Hoa Kỳ. Theo ông Robert Middendorf – phụ trách về lĩnh vực phát triển bền vững của USSEC tại khu vực Đông Á, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường, ngành đậu nành Hoa Kỳ đã triển khai chương trình Giao thức Đảm bảo Tính bền vững của Đậu nành Hoa Kỳ (SSAP). Hệ thống chứng nhận triển khai khoảng 20.000 cuộc kiểm tra hàng năm.
“Ngành đậu nành Hoa Kỳ nhận thấy nhu cầu cần có sản phẩm đạt chứng nhận có dấu chân carbon thấp, thân thiện môi trường, chất lượng tạo ra lợi thế khác biệt so với các nguồn cung khác”, ông Robert chia sẻ về mục tiêu của chương trình SSAP.

Đậu nành Hoa Kỳ có nền tảng sản xuất ổn định, bền vững, chất lượng đồng đều là một trong những lựa chọn đáng tin cậy cho ngành chăn nuôi.
Chương trình SSAP đánh giá dựa trên bốn yếu tố chính: bảo tồn đa dạng sinh học, thực hành sản xuất tốt, phúc lợi xã hội và cải tiến liên tục. Ông Robert Middendorf nhấn mạnh, ngành đậu nành Hoa Kỳ đang đặt ra các mục tiêu bền vững cụ thể đến năm 2030, trong đó tập trung giảm 10% tác động sử dụng đất, giảm 25% xói mòn đất, giảm 10% mức tiêu thụ năng lượng và giảm 5% phát thải khí nhà kính.
Trong giai đoạn 1980 – 2020, sản xuất đậu nành Hoa Kỳ đã giảm mạnh các tác động môi trường, trong khi năng suất sản xuất tăng tới 130% trên một hecta. Đây được xem là minh chứng rõ nét cho mô hình “tăng trưởng xanh” trong nông nghiệp. Cùng với đó, việc sử dụng 100% đậu nành Hoa Kỳ trong khẩu phần có thể giúp giảm tới 52% dấu chân carbon so với khẩu phần hỗn hợp.
Về chứng nhận bền vững SSAP, sản lượng đậu nành Hoa Kỳ được xác nhận đã tăng trưởng liên tục qua các năm. Xét theo khu vực, tỷ lệ lô hàng đạt chứng nhận SSAP trong tổng lượng xuất khẩu cũng không ngừng gia tăng. Thị trường Đông Nam Á đã đạt tỷ lệ 100%, thậm chí vượt ngưỡng này nhờ cơ chế chuyển nhượng chứng nhận linh hoạt trong chuỗi cung ứng.
Nguồn Nông nghiệp Môi trường



